ĐẠI CƯƠNG GIẢI PHẪU GAN

 

- Tĩnh mạch cửa nhận máu từ tĩnh mạch tràng trên, tràng dưới (đây là các tĩnh mạch dẫn các chất dinh dưỡng hấp thụ được từ ruột, ngoại trừ lipid có con đường riêng (bạch huyết)), và tĩnh mạch lách (nhận các sản phẩm thoái giáng của hồng cầu) => tĩnh mạch cửa dù nghèo oxy nhưng lại giàu chất dinh dưỡng để đưa vào gan, gan đóng vai trò như một trạm kiểm soát. Còn động mạch gan lại xuất phát từ động mạch chủ bụng nên mang nhiều oxy. Như vậy cả 2 cho các nhánh của mình đến khoảng cửa (nơi mà có 3 nhánh: nhánh của đm gan, nhánh của tĩnh mạch cửa, và nhánh của ống mật.); nhánh động mạch gan và nhánh tĩnh mạch cửa sẽ đổ vào mao mạch nan hoa=> đây là máu trộn (vừa giàu dinh dưỡng mà vừa giàu oxy), đi qua mao mạch nan hoa, sẽ được các tế bào gan hấp thu, thải trừ đưa máu về tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, rồi dòng máu sẽ đổ vào các nhánh lớn hơn vào tĩnh mạch trên gan về tĩnh mạch chủ dưới.

CÁC BỆNH GAN - MẬT - TỤY (PHẦN 2)

 VIÊM ĐƯỜNG MẬT NGUYÊN PHÁT (Primary Biliary Cholangitis - PBC)
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN

  • Xảy ra ở phụ nữ trung niên.
  • Thường không có triệu chứng.
  • Tăng phosphatase kiềm, kháng thể kháng ty thể dương tính, IgM tăng, cholesterol tăng.
  • Sinh thiết gan đặc trưng.
  • Trong giai đoạn muộn, có thể biểu hiện mệt mỏi, vàng da, dấu hiệu xơ gan, u vàng mí mắt, u vàng, phân mỡ.

CÁC BỆNH GAN - MẬT -TỤY (PHẦN 1)

VÀNG DA VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN BẤT THƯỜNG

TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN CƠ BẢN

Vàng da là kết quả của sự tích tụ bilirubin trong các mô cơ thể; nguyên nhân có thể do gan hoặc không do gan.

Tăng bilirubin máu có thể do bất thường trong quá trình hình thành, vận chuyển, chuyển hóa hoặc bài tiết bilirubin.

Tăng nhẹ kéo dài nồng độ aminotransferase thường gặp trong thực hành lâm sàng và thường nhất là do bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD) (trước đây gọi là bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, NAFLD).

Đánh giá vàng da tắc nghẽn bắt đầu bằng siêu âm và thường tiếp theo là chụp đường mật.

CÁC BỆNH VỀ TIÊU HÓA (PHẦN 4)

 BỆNH TÚI THỪA ĐẠI TRÀNG

Bệnh túi thừa đại tràng tăng theo tuổi, với tỷ lệ từ 5% ở người dưới 40 tuổi lên đến hơn 50% ở tuổi 60 tại các xã hội phương Tây. Hầu hết không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ khi nội soi hoặc thụt baryte. Biến chứng xảy ra ở dưới 5%, bao gồm chảy máu tiêu hóa và viêm túi thừa.

Túi thừa đại tràng có thể có kích thước từ vài milimét đến vài centimet và số lượng từ một đến vài chục. Hầu như tất cả bệnh nhân có túi thừa đều có liên quan đến đại tràng sigma và đại tràng xuống; tuy nhiên, chỉ 15% có bệnh đại tràng gần.

CÁC BỆNH VỀ TIÊU HÓA (PHẦN 3)

 BỆNH CỦA RUỘT NON

KÉM HẤP THU

Thuật ngữ "kém hấp thu" chỉ các rối loạn trong đó có sự gián đoạn của quá trình tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng. Các biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm của kém hấp thu được tóm tắt trong Bảng 17-11.

Bệnh Celiac

» Triệu chứng điển hình: sụt cân, tiêu chảy mạn tính, chướng bụng, chậm phát triển.

» Triệu chứng không điển hình: viêm da dạng herpes, thiếu máu thiếu sắt, loãng xương.

» Kết quả xét nghiệm huyết thanh bất thường.

» Sinh thiết ruột non bất thường.

» Cải thiện lâm sàng khi áp dụng chế độ ăn không gluten.

CÁC BỆNH VỀ TIÊU HÓA (PHẦN 2)

BỆNH PHÚC MẠC (DISEASES OF THE PERITONEUM)

ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN CÓ CỔ TRƯỚNG

Nguyên nhân Cổ trướng

Thuật ngữ "cổ trướng" chỉ sự tích tụ bệnh lý của dịch trong khoang phúc mạc. Nguyên nhân của cổ trướng có thể được phân thành hai loại sinh lý bệnh rộng: loại liên quan đến phúc mạc bình thường và loại xảy ra do phúc mạc bị bệnh (Bảng 17-7). Nguyên nhân phổ biến nhất của cổ trướng là tăng áp cửa thứ phát do bệnh gan mãn tính, chiếm hơn 80% bệnh nhân cổ trướng. Quản lý cổ trướng tăng áp cửa được thảo luận trong Chương 18. Các nguyên nhân phổ biến nhất của cổ trướng không do tăng áp cửa bao gồm nhiễm trùng (viêm phúc mạc lao), ung thư trong ổ bụng, rối loạn viêm phúc mạc và vỡ ống tụy mật (cổ trướng dưỡng chấp, cổ trướng tụy, cổ trướng mật).

CÁC BỆNH VỀ TIÊU HÓA (PHẦN 1)

 RỐI LOẠN TIÊU HÓA

Kenneth R. McQuaid, MD

TRIỆU CHỨNG & DẤU HIỆU CỦA BỆNH TIÊU HÓA

KHÓ TIÊU (Dyspepsia)

Tiêu chí chẩn đoán cốt lõi (Essentials of Diagnosis)

  • Đau hoặc khó chịu vùng thượng vị là triệu chứng nổi bật. 

  • Có thể kèm theo ợ nóng, buồn nôn, cảm giác đầy bụng sau ăn hoặc nôn. 

  • Nội soi đường tiêu hóa trên được chỉ định ở tất cả bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên và những bệnh nhân trẻ hơn có các dấu hiệu báo động (alarm features). 

  • Ở các bệnh nhân còn lại, nên xét nghiệm tìm Helicobacter pylori; nếu dương tính, tiến hành điều trị tiệt trừ H. pylori bằng kháng sinh. 

  • Những bệnh nhân âm tính với H. pylori hoặc triệu chứng không cải thiện sau khi tiệt trừ H. pylori nên được điều trị thử bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI). 

  • Nếu triệu chứng vẫn dai dẳng, nên điều trị thử bằng thuốc chống trầm cảm ba vòng (tricyclic antidepressant, TCA).

Có thể bạn cũng thích

Đang tải bài viết...