VÀNG DA VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN BẤT THƯỜNG
TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN CƠ BẢN
Vàng da là kết quả của sự tích tụ bilirubin trong các mô cơ
thể; nguyên nhân có thể do gan hoặc không do gan.
Tăng bilirubin máu có thể do bất thường trong quá trình hình
thành, vận chuyển, chuyển hóa hoặc bài tiết bilirubin.
Tăng nhẹ kéo dài nồng độ aminotransferase thường gặp trong
thực hành lâm sàng và thường nhất là do bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn
chuyển hóa (MASLD) (trước đây gọi là bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, NAFLD).
Đánh giá vàng da tắc nghẽn bắt đầu bằng siêu âm và thường tiếp
theo là chụp đường mật.
CÂN NHẮC CHUNG
Vàng da (icterus) là kết quả của sự tích tụ bilirubin – một sản phẩm của chuyển hóa heme – trong các mô cơ thể. Tăng bilirubin máu có thể do bất thường trong quá trình hình thành, vận chuyển, chuyển hóa hoặc bài tiết bilirubin. Tổng bilirubin huyết thanh bình thường là 0,2−1,2mg/dL (3,42-20,52 mcmol/L). Nồng độ trung bình cao hơn ở nam giới so với nữ giới. Vàng da có thể không được nhận ra cho đến khi nồng độ bilirubin huyết thanh khoảng 3mg/dL (51,3 mcmol/L). Vàng da có thể do tăng bilirubin không liên hợp hoặc liên hợp trong huyết thanh (Bảng 18-1).
PHÁT HIỆN LÂM SÀNG
A. Tăng Bilirubin Không Liên Hợp
Tăng bilirubin không liên hợp có thể do sản xuất quá mức bilirubin vì tan máu; giảm hấp thu bilirubin ở gan do một số thuốc; hoặc giảm liên hợp bilirubin bởi glucuronide, do giảm nhẹ uridine diphosphate (UDP) glucuronyl transferase (hội chứng Gilbert), hoặc giảm vừa (loại II) hoặc không có (loại I) UDP glucuronyl transferase (hội chứng Crigler-Najjar). Tan máu đơn thuần hiếm khi làm tăng nồng độ bilirubin huyết thanh (toàn phần) quá 7mg/dL (119,7 mcmol/L). Màu phân và nước tiểu bình thường. Có vàng da nhẹ và tăng bilirubin gián tiếp (không liên hợp) trong huyết thanh, nhưng bilirubin không có trong nước tiểu. Lách to xảy ra trong các rối loạn tan máu mạn tính trừ bệnh hồng cầu hình liềm.
B. Tăng Bilirubin Liên Hợp
Tăng bilirubin liên hợp chủ yếu có thể do suy giảm bài tiết
bilirubin từ gan do các khiếm khuyết di truyền của vận chuyển ống mật tế bào
gan (như hội chứng Dubin-Johnson, hội chứng ứ mật trong gan gia đình tiến triển,
và ứ mật trong gan do thai nghén), bệnh tế bào gan, tắc nghẽn ngoài gan, thuốc,
hoặc nhiễm trùng huyết. Các đặc điểm của một số hội chứng tăng bilirubin được
tóm tắt trong Bảng 18-2.
- Tăng
bilirubin liên hợp do tổn thương tế bào gan – Tăng bilirubin liên hợp do tổn
thương tế bào gan thường đi kèm vàng da, nước tiểu sẫm màu, phân nhạt màu,
và ngứa; ở phụ nữ, có thể xảy ra vô kinh. Mệt mỏi, chán ăn, sốt nhẹ, và
khó chịu vùng hạ sườn phải thường gặp, mặc dù bệnh nhân có thể không có
triệu chứng. Gan to đau, giãn mạch hình sao, ban đỏ lòng bàn tay, cổ trướng,
vú to ở nam giới, thưa lông cơ thể, hơi thở có mùi gan (fetor hepaticus),
và dấu hiệu vỗ tay (asterixis) có thể xuất hiện, tùy thuộc vào nguyên
nhân, mức độ nặng và thời gian của rối loạn chức năng gan.
- Tăng
bilirubin liên hợp do tắc nghẽn đường mật – Tăng bilirubin liên hợp do tắc
nghẽn đường mật có thể đi kèm vàng da, nước tiểu sẫm màu, phân nhạt màu,
ngứa, đau hạ sườn phải, và sụt cân (gợi ý ung thư). Các triệu chứng và dấu
hiệu có thể từng cơn nếu do sỏi, ung thư bóng Vater, hoặc ung thư đường mật.
Đau có thể không có sớm trong ung thư tụy. Máu ẩn trong phân gợi ý ung thư
bóng Vater. Túi mật sờ thấy (dấu hiệu Courvoisier) có đặc điểm, nhưng
không đặc hiệu cũng không nhạy để chẩn đoán u đầu tụy. Sốt và rét run thường
gặp hơn trong tắc nghẽn lành tính kèm viêm đường mật.
Bảng 18-1. Phân loại vàng da.
|
Loại Tăng Bilirubin Máu |
Vị Trí và Nguyên Nhân |
|
Tăng bilirubin không liên hợp
(bilirubin gián tiếp chủ yếu) |
Tăng sản xuất bilirubin (ví dụ:
thiếu máu tan huyết, phản ứng tan huyết, tụ máu, nhồi máu phổi) Suy giảm hấp thu và dự trữ bilirubin
(ví dụ: tăng bilirubin sau viêm gan, hội chứng Gilbert, hội chứng
Crigler-Najjar, phản ứng thuốc) |
|
Tăng bilirubin liên hợp (bilirubin
trực tiếp chủ yếu) |
Các Hội chứng Ứ mật Di truyền (xem
thêm Bảng 18–2) Suy giảm bài tiết bilirubin liên hợp
(ví dụ: hội chứng Dubin-Johnson, hội chứng Rotor) hoặc biến thể bệnh lý ở gen
mã hóa protein vận chuyển muối mật (ví dụ: các hội chứng ứ mật trong gan gia
đình tiến triển, ứ mật trong gan tái phát lành tính, và một số trường hợp ứ
mật trong gan của thai kỳ) Tổn thương Tế bào Gan Tổn thương biểu mô đường mật và tế
bào gan (ví dụ: viêm gan, xơ gan) Ứ mật trong gan (ví dụ: một số thuốc, xơ
gan đường mật, nhiễm trùng huyết, vàng da sau mổ) Tổn thương tế bào gan hoặc
ứ mật trong gan do các nguyên nhân hỗn hợp (ví dụ: nhiễm xoắn khuẩn, nhiễm
EBV, viêm đường mật, sarcoidosis, lymphoma, cường giáp, độc tố công nghiệp) Tắc nghẽn Đường mật Sỏi ống mật chủ, teo đường mật, ung
thư ống mật, viêm xơ đường mật, viêm đường mật liên quan IgG4, viêm đường mật
do thiếu máu, viêm đường mật do COVID, nang ống mật chủ, chèn ép ngoài ống
mật, viêm tụy, u tụy |
(Xem Bảng 18-3 và 18-4.)
A. Kết quả Xét nghiệm
Nồng độ ALT và AST trong huyết
thanh tăng phản ánh tổn thương tế bào gan. Giới hạn trên của bình thường cho
ALT là 29−33U/ L ở nam và 19−25U/L ở nữ. Giá trị tham chiếu bình thường cho ALT
và AST thấp hơn so với báo cáo chung khi loại trừ những người có yếu tố nguy cơ
gan nhiễm mỡ. Nồng độ giảm theo tuổi, đặc biệt ở nam, và tương quan với BMI và
tỷ lệ tử vong do bệnh gan, và nghịch với tiêu thụ caffeine và hoạt động thể
chất. Nồng độ ALT và AST tăng cao, thường trên 1000U/L (20 mkat/L), là dấu hiệu
đặc trưng của hoại tử hoặc viêm tế bào gan. MASLD là nguyên nhân phổ biến nhất
gây tăng nhẹ đến vừa kéo dài nồng độ aminotransferase. Nồng độ tăng nhẹ ở hơn
25% người bệnh celiac không điều trị và ở bệnh nhân đái tháo đường type 1 với
cái gọi là bệnh gan tăng đường huyết. Tăng xét nghiệm gan có thể do độc tính
của thuốc, thảo dược và thực phẩm bổ sung, và chất độc. Chúng có thể tăng
thoáng qua ở người khỏe mạnh bắt đầu dùng 4g acetaminophen mỗi ngày hoặc tăng
cân nhanh khi ăn chế độ ăn nhanh. Nồng độ có thể tăng đột ngột nhưng thoáng qua
ở bệnh nhân tắc nghẽn đường mật cấp do sỏi ống mật chủ. Tăng vừa thường gặp
trong nhiễm trùng hệ thống, bao gồm COVID-19.
Nồng
độ phosphatase kiềm tăng thấy trong ứ mật hoặc bệnh gan thâm nhiễm (như khối u,
bệnh u hạt, hoặc amyloidosis). Ở bệnh nhân tăng phosphatase kiềm đơn độc, nguồn
gốc từ gan (chứ không phải xương, ruột, hoặc nhau thai) được xác nhận bằng tăng
đồng thời gamma-glutamyl transpeptidase hoặc nồng độ 5′-nucleotidase hoặc bằng
phân tích đồng phân phosphatase kiềm.
B.
Chẩn đoán Hình ảnh
Siêu âm hoặc CT cho thấy đường mật giãn chỉ ra tắc nghẽn đường mật (độ nhạy
90−95%). Siêu âm, CT, và MRI cũng có thể cho thấy gan to, khối u trong gan, và
tăng áp lực tĩnh mạch cửa. MRI là kỹ thuật chính xác nhất để xác định các tổn
thương gan đơn độc như u máu, tăng sản nốt khu trú, hoặc thâm nhiễm mỡ khu trú
và để phát hiện quá tải sắt gan. Các kỹ thuật nhạy nhất để phát hiện các di căn
gan nhỏ riêng lẻ ở bệnh nhân đủ điều kiện phẫu thuật cắt bỏ là CT xoắn ốc đa
pha hoặc đa lát cắt; MRI với chất tương phản gadolinium hoặc ferumoxides; chụp
động mạch cửa CT, trong đó chụp ảnh sau khi truyền dịch tương phản qua ống
thông đặt trong động mạch mạc treo tràng trên; và siêu âm trong mổ. Do chi phí
thấp hơn nhiều, siêu âm được ưa chuộng hơn CT (đắt gấp ~ sáu lần) hoặc MRI (đắt
gấp ~ bảy lần) như xét nghiệm sàng lọc HCC ở người xơ gan. PET có thể phát hiện
khối u tụy nhỏ và di căn. Siêu âm có thể phát hiện sỏi mật với độ nhạy 95%.
Chụp
cộng hưởng từ mật tụy (MRCP) là phương pháp nhạy, không xâm lấn để phát hiện
sỏi, hẹp, và giãn đường mật; tuy nhiên, nó kém tin cậy hơn nội sơ mật tụy ngược
dòng (ERCP) trong phân biệt hẹp lành tính và ác tính. ERCP đòi hỏi bác sĩ nội
soi có kỹ năng và có thể được sử dụng để chứng minh nguyên nhân tụy hoặc bóng
Vater gây vàng da, thực hiện cắt cơ vòng và lấy sỏi, đặt stent qua tổn thương
tắc nghẽn, hoặc tạo điều kiện cho nội soi đường mật tụy trực tiếp. Biến chứng
của ERCP bao gồm viêm tụy (5% hoặc ít hơn) và ít gặp hơn, viêm đường mật, chảy
máu, hoặc thủng tá tràng sau khi cắt cơ vòng. Chụp đường mật qua da xuyên gan
(PTC) là một phương pháp thay thế để đánh giá giải phẫu đường mật. Biến chứng
nghiêm trọng của PTC xảy ra trong 3% và bao gồm sốt, nhiễm khuẩn huyết, viêm
phúc mạc mật, và xuất huyết trong phúc mạc. Nội soi siêu âm (EUS) là xét nghiệm
nhạy nhất để phát hiện hoặc loại trừ sỏi ống mật chủ. Nó cũng được sử dụng để
đánh giá tổn thương nhỏ của bóng Vater hoặc đầu tụy, phát hiện xâm lấn tĩnh mạch
cửa do ung thư tụy, và hướng dẫn chọc hút kim nhỏ và sinh thiết các khối u tụy
nghi ngờ.
C.
Sinh thiết Gan
Sinh
thiết gan qua da là xét nghiệm quyết định để xác định nguyên nhân và mức độ
nặng của tổn thương tế bào gan hoặc bệnh gan thâm nhiễm, mặc dù có thể sai số
do lấy mẫu. Nó thường được thực hiện dưới hướng dẫn siêu âm hoặc, ở một số bệnh
nhân nghi ngờ bệnh di căn hoặc khối u gan, hướng dẫn CT. Đường tĩnh mạch cảnh
trong có thể được sử dụng ở bệnh nhân rối loạn đông máu hoặc cổ trướng, và
trong một số trường hợp chọn lọc, sinh thiết gan dưới hướng dẫn nội soi siêu âm
đã được chứng minh có lợi. Nguy cơ chảy máu nặng sau sinh thiết gan qua da
khoảng 0,5% và tăng lên ở người có số lượng tiểu cầu 50.000/μL (50×109/L) hoặc
ít hơn. Nguy cơ tử vong là 0,01%. Các bộ xét nghiệm máu (ví dụ, FibroSure,
NAFLD fibrosis score, enhanced liver fibrosis score) và chính xác hơn, siêu âm
đàn hồi mô hoặc cộng hưởng từ đàn hồi mô để đo độ cứng gan được sử dụng để ước
tính giai đoạn xơ hóa gan và mức độ tăng áp lực tĩnh mạch cửa mà không cần sinh
thiết gan; chúng hữu ích nhất để loại trừ xơ hóa tiến triển.
Khi
nào cần giới thiệu chuyên khoa
Bệnh
nhân vàng da nên được giới thiệu để thực hiện các thủ thuật chẩn đoán.
Khi nào cần nhập viện
Bệnh nhân suy gan cần nhập viện.
Bảng 18.2: Các rối loạn tăng bilirubin máu
|
Hội chứng |
Bản chất khiếm khuyết |
Loại tăng bilirubin máu |
Đặc điểm lâm sàng và bệnh lý |
|
Hội chứng Gilbert¹ |
Giảm hoạt tính của enzyme uridine diphosphate glucuronyl
transferase |
Bilirubin không liên hợp (gián tiếp) |
Vàng da di truyền lành tính, không triệu chứng. Tăng
bilirubin máu khi nhịn đói 24–36 giờ. Không cần điều trị. Liên quan với giảm
tử vong do bệnh tim mạch (CVD). |
|
Hội chứng Dubin-Johnson² |
Giảm chức năng bài tiết của tế bào gan |
Bilirubin liên hợp (trực tiếp) |
Vàng da di truyền lành tính, không triệu chứng. Túi mật
không hiện trên chụp túi mật uống. Gan sẫm màu khi quan sát đại thể. Sinh thiết
gan cho thấy sắc tố nâu vùng trung tâm tiểu thùy. Tiên lượng rất tốt. |
|
Hội chứng Rotor³ |
Giảm tái hấp thu bilirubin liên hợp của gan |
Bilirubin liên hợp (trực tiếp) |
Tương tự hội chứng Dubin-Johnson, nhưng gan không có sắc tố
và túi mật hiện trên chụp túi mật uống. Tiên lượng rất tốt. |
|
Ứ mật trong gan tái phát hoặc tiến triển⁴ |
Ứ mật, thường trên cơ sở gia đình |
Bilirubin liên hợp chủ yếu (trực tiếp) |
Các cơn kịch phát hoặc vàng da tiến triển, ngứa và mệt mỏi.
Khởi phát sớm trong đời; có thể kéo dài suốt đời. Phosphatase kiềm tăng. Ứ mật
thấy trên sinh thiết gan (có thể bình thường trong giai đoạn thuyên giảm).
Tiên lượng thường rất tốt đối với thể “ứ mật trong gan tái phát lành tính”,
nhưng có thể không tốt đối với các thể gia đình. |
|
Ứ mật trong gan của thai kỳ⁵ |
Ứ mật |
Bilirubin liên hợp chủ yếu (trực tiếp) |
Vàng da ứ mật lành tính, thường xảy ra ở tam cá nguyệt thứ
ba của thai kỳ. Ngứa, triệu chứng tiêu hóa, xét nghiệm chức năng bài tiết gan
bất thường, và tăng nồng độ acid mật huyết thanh (> 10 micromol/L). Ứ mật
thấy trên sinh thiết gan. Tiên lượng rất tốt, nhưng hay tái phát ở những lần
mang thai sau hoặc khi dùng thuốc tránh thai uống. |
2 Hội chứng Dubin-Johnson gây ra bởi
biến thể bệnh lý (pathogenic variant) trong gen ABCC2 mã hóa protein vận
chuyển anion hữu cơ multidrug resistance protein 2 (MRP2) nằm ở mào mật trên
nhiễm sắc thể 10q24.
3 Hội chứng Rotor gây ra bởi các biến
thể bệnh lý trong các gen mã hóa các polypeptide vận chuyển anion hữu cơ OATP1B1
và OATP1B3 trên nhiễm sắc thể 12p.
4 Các biến thể bệnh lý trong các gen
kiểm soát hệ thống vận chuyển của tế bào gan tham gia vào quá trình hình thành
mật và được di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể là nằm trên nhiễm sắc
thể 18q21–22, 2q24, 7q21, và một số nhiễm sắc thể khác
trong các gia đình bị ứ mật trong gan gia đình tiến triển.
Các
biến thể bệnh lý của gen trên nhiễm sắc thể 18q21–22 làm thay đổi một
ATPase kiểu P được biểu hiện ở ruột non và gan; còn các biến thể trên nhiễm sắc
thể 2q24 làm thay đổi bơm xuất acid mật và cũng gây ra ứ mật trong gan
tái phát lành tính.
Các
biến thể bệnh lý trong gen ABCB4 nằm trên nhiễm sắc thể 7 mã hóa
multidrug resistance protein 3 (MRP3) là nguyên nhân gây ứ mật trong gan gia
đình tiến triển type 3.
Các
nguyên nhân ít gặp hơn của ứ mật trong gan gia đình tiến triển là các biến thể
bệnh lý trong gen mã hóa TJP2, FXR, MYO5B, và một số gen
khác.
5 Các biến thể bệnh lý trong các gen
(đặc biệt là ABCB4 và ABCB11) mã hóa các transporter ống mật mào
gan giải thích cho nhiều trường hợp ứ mật trong gan của thai kỳ.
Bảng 18–3. Xét nghiệm sinh hóa gan: Giá trị bình thường
và thay đổi trong vàng da tế bào gan và vàng da tắc nghẽn
|
Xét nghiệm |
Giá trị bình thường |
Vàng da tế bào gan |
Vàng da tắc nghẽn |
|
Bilirubin¹ Trực tiếp Gián tiếp |
0.1–0.3 mg/dL (1.71–5.13 micromol/L) 0.2–0.7 mg/dL
(3.42–11.97 micromol/L) |
Tăng Tăng |
Tăng Tăng |
|
Bilirubin nước tiểu |
Không có |
Tăng |
Tăng |
|
Albumin huyết thanh |
3.5–5.5 g/dL (35–55 g/L) |
Giảm |
Thường không thay đổi |
|
Phosphatase kiềm |
30–115 U/L (0.6–2.3 mkat/L) |
Tăng nhẹ (+) |
Tăng mạnh (++++) |
|
Thời gian prothrombin |
INR của 1.0–1.4. Sau vitamin K, giảm 10% trong 24 giờ |
Kéo dài nếu tổn thương nặng; không đáp ứng với vitamin K
tiêm |
Kéo dài nếu tắc nghẽn rõ; thường đáp ứng với vitamin K
tiêm(do không có mật để hấp thu vitamin K) |
|
ALT, AST |
ALT ≤ 30 U/L (0.6 mkat/L) (nam), ≤ 19 U/L (0.38 mkat/L) (nữ);
AST, 5–40 U/L (0.1–0.8 mkat/L) |
Tăng, như trong viêm gan virus |
Tăng tối thiểu |
Chú thích: ¹ Được đo bằng phản ứng van den Bergh, phản ứng
này thường overestimate (đánh giá cao hơn) bilirubin trực tiếp ở người bình thường.
Bảng 18–4. Nguyên nhân gây tăng
aminotransferase huyết thanh¹
|
Tăng nhẹ (< 5 × giới hạn bình thường) |
Tăng nặng (> 15 × giới hạn bình thường) |
|
Gan: ALT chiếm ưu thế Viêm gan mạn B, C và D Viêm gan virus cấp (A–E, EBV, CMV, các loại khác) Gan nhiễm mỡ / Viêm gan nhiễm mỡ Hemochromatosis Thuốc và độc tố Viêm gan tự miễn Thiếu hụt
alpha-1-antitrypsin (alpha-1-antiprotease) Bệnh Wilson Bệnh celiac Glycogenic
hepatopathy |
Viêm gan virus cấp (A–E, herpes) Thuốc và độc tố Viêm gan thiếu máu
(Ischemic hepatitis) Viêm gan tự miễn Bệnh Wilson Tắc nghẽn ống mật cấp Hội
chứng Budd-Chiari cấp Thắt động mạch gan |
|
Gan: AST chiếm ưu thế Tổn thương gan do rượu (tỷ lệ AST:ALT > 2:1) Xơ gan COVID-19 |
|
|
Không phải gan Tập luyện gắng sức Tan huyết Bệnh
cơ (Myopathy) Bệnh tuyến giáp Macro-AST |
Chú
thích:
¹ Hầu như bất kỳ bệnh gan nào cũng có thể gây tăng aminotransferase mức độ vừa
phải (5–15 × giới hạn bình thường). CMV: cytomegalovirus; EBV: Epstein-Barr
virus.
BỆNH CỦA GAN
Xem Chương 41 để biết về HCC.
VIÊM GAN A CẤP
TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN CƠ BẢN
Giai đoạn tiền triệu: chán ăn, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, ác cảm với thuốc lá.
Sốt, gan to đau, vàng da.
Số lượng bạch cầu bình thường hoặc thấp; aminotransferase tăng rõ rệt.
CÂN NHẮC CHUNG
Viêm gan có thể do virus, bao gồm năm virus hướng gan – A, B, C, D, và E – và
nhiều loại thuốc và chất độc; các biểu hiện lâm sàng có thể tương tự nhau bất kể
nguyên nhân. Virus viêm gan A (HAV) là một RNA hepatovirus (trong họ
picornavirus) kích thước 27−nm gây ra các vụ dịch hoặc các ca bệnh
rải rác. Nhiễm HAV là siêu lưu hành ở các nước đang phát triển. Trên toàn cầu,
hơn 1,5 triệu người nhiễm HAV hàng năm. Virus lây truyền qua đường phân-miệng
hoặc tiếp xúc trực tiếp giữa người với người hoặc ăn phải thức ăn hoặc nước bị
ô nhiễm, và sự lây lan của nó được thúc đẩy bởi đông đúc và điều kiện vệ sinh
kém. Tại Hoa Kỳ, khoảng 30% dân số có bằng chứng huyết thanh học về
nhiễm HAV trước đó. Kể từ khi giới thiệu vắc xin HAV tại Hoa Kỳ năm 1995, tỷ lệ
mắc nhiễm HAV đã giảm từ 14 xuống 0,4 trên 100.000 dân, với tỷ lệ tử vong giảm
tương ứng từ 0,1 xuống 0,02 trên 100.000 dân và tuổi trung bình mắc và tử vong
tăng lên. Tuy nhiên, đa số người từ 25 tuổi trở lên ở Hoa Kỳ vẫn dễ bị nhiễm
HAV, và các nhóm dân số dễ bị tổn thương đặc biệt có nguy cơ. Các vụ bùng phát
từ nguồn chung do thực phẩm bị ô nhiễm, bao gồm động vật có vỏ nấu chưa chín,
hoặc nước ngầm chưa xử lý từ giếng vẫn tiếp tục xảy ra, mặc dù không có vụ bùng
phát nào liên quan đến nước uống kể từ năm 2009. Ngoài người vô gia cư, các vụ
bùng phát có thể xảy ra ở người tiêm chích ma túy hoặc cư dân chưa tiêm phòng
trong các cơ sở và ở nam giới quan hệ tình dục đồng giới và ở trẻ em được nhận
nuôi quốc tế và những người tiếp xúc với họ.
Thời gian ủ bệnh trung bình 30 ngày. HAV được bài tiết trong
phân tới 2 tuần trước khi bệnh lâm sàng nhưng hiếm sau tuần đầu tiên của bệnh.
Tỷ lệ tử vong do viêm gan A thấp, và suy gan cấp do viêm gan A không phổ biến
ngoại trừ các trường hợp hiếm gặp xảy ra ở bệnh nhân viêm gan C mạn tính kèm
theo. Không có trạng thái mang virus mạn tính.
PHÁT HIỆN LÂM SÀNG
A. Triệu chứng và Dấu hiệu
Hình 18-1 cho thấy diễn biến điển hình của viêm gan A cấp. Bệnh lâm sàng nặng
hơn ở người lớn so với trẻ em, ở trẻ em thường không có triệu chứng. Khởi phát
có thể đột ngột hoặc từ từ, với mệt mỏi, đau cơ, đau khớp, dễ mệt, triệu chứng
hô hấp trên, và chán ăn. Ác cảm với hút thuốc, song song với chán ăn, có thể xuất
hiện sớm. Buồn nôn và nôn thường gặp, tiêu chảy hoặc táo bón có thể xảy ra. Sốt
thường có nhưng nhẹ, trừ một số trường hợp có thể nhiễm độc toàn thân. Hạ sốt
và giảm mạch thường trùng với khi bắt đầu vàng da.
Đau bụng thường nhẹ và liên tục ở hạ sườn phải hoặc thượng vị,
thường tăng khi va chạm hoặc gắng sức, và hiếm khi đủ nặng để giống viêm túi mật.
Vàng da xuất hiện sau 5-10 ngày nhưng có thể xuất hiện cùng lúc với các triệu
chứng ban đầu. Ở nhiều bệnh nhân, vàng da không bao giờ xuất hiện. Khi vàng da
bắt đầu, các triệu chứng tiền triệu thường nặng hơn, sau đó cải thiện dần. Phân
có thể bạc màu trong giai đoạn này. Gan to – hiếm khi rõ rệt – có mặt trong hơn
một nửa số ca. Gan thường đau. Lách to được báo cáo trong 15% bệnh
nhân, và các hạch bạch huyết mềm, to – đặc biệt ở vùng cổ hoặc khuỷu tay – có
thể được ghi nhận.
Bệnh cấp thường giảm dần trong 2-3 tuần và hồi phục hoàn
toàn về lâm sàng và xét nghiệm sau 9 tuần.
* Comment: Có vẻ giống triệu chứng toàn thân của cúm + đau thượng vị/vùng gan + vàng da.
Trong một số trường hợp, hồi phục lâm sàng, sinh hóa và huyết thanh học có thể tiếp theo là một hoặc hai đợt tái phát, nhưng hồi phục là quy luật. Viêm túi mật cấp đôi khi làm biến chứng diễn biến viêm gan A cấp. Các biến chứng ngoài gan khác thỉnh thoảng bao gồm AKI (tổn thương thận cấp), viêm khớp, viêm mạch, viêm tụy cấp, thiếu máu bất sản, và nhiều biểu hiện thần kinh khác nhau.
B. Kết quả Xét nghiệm
Số lượng bạch cầu bình thường hoặc thấp, đặc biệt trong giai đoạn tiền vàng da.
Có thể thấy tế bào lympho không điển hình lớn thoáng qua. Protein niệu nhẹ thường
gặp, và bilirubin niệu thường đi trước sự xuất hiện của vàng da. Nồng độ ALT hoặc
AST tăng rõ rệt xuất hiện sớm, tiếp theo là tăng bilirubin và phosphatase kiềm;
ở một số ít bệnh nhân, các chỉ số sau vẫn tăng sau khi aminotransferase đã bình
thường. Ứ mật có khi rõ rệt. Kháng thể kháng viêm gan A (anti-HAV) xuất hiện sớm
trong diễn biến bệnh (Hình 18-1). Cả IgM và IgG anti-HAV đều có thể phát hiện
trong huyết thanh ngay sau khi khởi phát. Hiệu giá IgM anti-HAV đạt đỉnh trong
tuần đầu tiên của bệnh lâm sàng và thường biến mất trong vòng 3-6 tháng. Phát
hiện IgM anti-HAV là xét nghiệm tuyệt vời để chẩn đoán viêm gan A cấp. Hiệu giá
IgG anti-HAV tăng sau 1 tháng bệnh và có thể tồn tại nhiều năm. IgG anti-HAV
(trong trường hợp không có IgM anti-HAV) chỉ ra phơi nhiễm HAV trước đó, không
lây nhiễm và có miễn dịch.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Chẩn đoán phân biệt bao gồm các virus khác gây viêm gan, đặc biệt là virus viêm
gan B (HBV) và C (HCV), và các bệnh như tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng, nhiễm
cytomegalovirus, nhiễm virus herpes simplex, hội chứng hô hấp Trung Đông, và
nhiễm trùng do nhiều loại virus khác, bao gồm cúm, virus Ebola, và SARS-CoV-2;
các bệnh xoắn khuẩn như leptospirosis và giang mai thứ phát; brucellosis; các bệnh
rickettsia như sốt Q; tổn thương gan do thuốc; và viêm gan thiếu máu cục bộ
(gan sốc). Đôi khi, viêm gan tự miễn có thể khởi phát cấp giống viêm gan virus
cấp. Hiếm khi, ung thư gan di căn, u lympho, hoặc bệnh bạch cầu có thể biểu hiện
như một bệnh cảnh giống viêm gan.
Giai đoạn tiền triệu của viêm gan virus phải được phân biệt
với các bệnh nhiễm trùng khác như cúm và COVID-19, nhiễm trùng hô hấp trên, và
giai đoạn tiền triệu của các bệnh phát ban. Ứ mật có thể giống vàng da tắc nghẽn.
DỰ PHÒNG
Không cần cách ly nghiêm ngặt bệnh nhân, nhưng cần rửa tay sau khi đi đại tiện.
Những người chưa tiêm phòng tiếp xúc với HAV được khuyến cáo dự phòng sau phơi
nhiễm với một liều vắc xin HAV hoặc globulin miễn dịch (0,01 mL/kg), hoặc cả
hai, trong vòng 2 tuần sau phơi nhiễm. Vắc xin được ưu tiên ở người khỏe mạnh từ
1 đến 40 tuổi, trong khi globulin miễn dịch cộng vắc xin được ưu tiên ở người
dưới 1 tuổi hoặc trên 40 tuổi, người suy giảm miễn dịch, hoặc có bệnh gan mạn
tính.
Tiêm vắc xin với một trong hai loại vắc xin viêm gan A bất
hoạt hiệu quả có sẵn tại Hoa Kỳ cung cấp miễn dịch lâu dài và được khuyến cáo
cho người sống hoặc đi du lịch đến vùng lưu hành (bao gồm cả quân nhân), người
trên 40 tuổi, bệnh nhân bệnh gan mạn tính khi chẩn đoán sau khi sàng lọc miễn dịch,
nam quan hệ tình dục đồng giới, người nhiễm HIV, người xử lý động vật, người sử
dụng ma túy tiêm hoặc không tiêm, người vô gia cư, người bị giam giữ, người tiếp
xúc gần gũi với trẻ em được nhận nuôi quốc tế, người sống trong các cơ sở tập
thể cho người khuyết tật phát triển, và người yêu cầu bảo vệ khỏi HAV. Đối với
du khách khỏe mạnh, một liều vắc xin bất kỳ lúc nào trước khi khởi hành có thể
cung cấp bảo vệ đầy đủ. Ủy ban Cố vấn về Thực hành Tiêm chủng của CDC khuyến
cáo tiêm chủng định kỳ cho tất cả trẻ em 12-23 tháng tuổi ở Hoa Kỳ, với tiêm
vét cho trẻ em và thanh thiếu niên 2-18 tuổi chưa từng tiêm vắc xin HAV trước
đó. Vắc xin HAV cũng có hiệu quả trong phòng ngừa lây nhiễm thứ phát cho người
tiếp xúc trong gia đình với các ca bệnh chỉ điểm. Liều khuyến cáo cho người lớn
là 1mL1mL (1440 đơn vị ELISA) Havrix (GlaxoSmithKline) hoặc 1mL1mL (50
đơn vị) Vaqta (Merck) tiêm bắp, tiếp theo là liều nhắc lại sau 6-18 tháng. Vắc
xin phối hợp viêm gan A và B (Twinrix, GlaxoSmithKline) có sẵn.
ĐIỀU TRỊ
Nghỉ ngơi tại giường chỉ được khuyến cáo nếu triệu chứng rõ rệt. Nếu buồn nôn
và nôn nhiều hoặc nếu ăn uống giảm đáng kể, truyền tĩnh mạch glucose 10% được
chỉ định.
Quản lý chế độ ăn uống bao gồm các bữa ăn ngon miệng khi dung nạp, không ăn quá
no; bữa sáng thường dung nạp tốt nhất. Cần tránh gắng sức quá mức, rượu, và các
chất độc cho gan. Liều nhỏ oxazepam an toàn vì chuyển hóa không qua gan; nên
tránh morphine sulfate.
TIÊN LƯỢNG
Ở hầu hết bệnh nhân, hồi phục lâm sàng thường hoàn toàn trong vòng 3 tháng. Bằng
chứng xét nghiệm rối loạn chức năng gan có thể kéo dài hơn, nhưng hầu hết bệnh
nhân hồi phục hoàn toàn. Viêm gan A không gây bệnh gan mạn tính, mặc dù có thể
kéo dài tới 1 năm, và tái phát lâm sàng và sinh hóa có thể xảy ra trước khi hồi
phục hoàn toàn. Tỷ lệ tử vong dưới 1,0%với tỷ lệ cao hơn ở người lớn tuổi
so với người trẻ.
Khi nào cần nhập viện
Có bệnh não. INR lớn hơn 1,6. Bệnh nhân không thể duy trì nước.
VIÊM GAN B CẤP
TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN CƠ BẢN
Giai đoạn tiền triệu: chán ăn, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, ác cảm với thuốc lá.
Sốt, gan to đau, vàng da.
Số lượng bạch cầu bình thường hoặc thấp; aminotransferase tăng rõ rệt sớm.
Sinh thiết gan cho thấy hoại tử tế bào gan và thâm nhiễm tế bào đơn nhân nhưng
hiếm khi chỉ định.
CÂN NHẮC CHUNG
Virus viêm gan B (HBV) là một hepadnavirus 42-nm với bộ gen DNA sợi đôi một phần,
protein lõi bên trong (kháng nguyên lõi viêm gan B, HBcAg), và vỏ bọc bề mặt
bên ngoài (kháng nguyên bề mặt viêm gan B, HBsAg). Có 10 kiểu gen khác nhau
(A-J). HBV thường lây truyền qua tiêm máu hoặc chế phẩm máu bị nhiễm hoặc qua
quan hệ tình dục, và có trong nước bọt, tinh dịch, và dịch tiết âm đạo. Các bà
mẹ có HBsAg dương tính có thể truyền HBV khi sinh.
Từ năm 1990, tỷ lệ nhiễm HBV tại Hoa Kỳ đã giảm từ 8,5 xuống
1,5 ca trên 100.000 dân. Tỷ lệ lưu hành là 0,27% ở người từ 6 tuổi trở
lên. Do tiêm chủng phổ cập từ năm 1992, phơi nhiễm HBV thấp ở người 18 tuổi hoặc
trẻ hơn. HBV phổ biến ở nam quan hệ tình dục đồng giới và người tiêm chích ma
túy (khoảng 7% người nhiễm HIV đồng nhiễm HBV), nhưng số ca nhiều nhất
là do lây truyền qua đường tình dục khác giới. Các nhóm nguy cơ khác bao gồm bệnh
nhân và nhân viên tại các trung tâm thẩm phân máu, bác sĩ, nha sĩ, y tá, và
nhân viên làm việc trong phòng thí nghiệm lâm sàng và bệnh lý và ngân hàng máu.
Một nửa số bệnh nhân viêm gan B cấp ở Hoa Kỳ từng bị giam giữ hoặc được điều trị
nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục. USPSTE khuyến cáo sàng lọc nhiễm HBV
cho các nhóm nguy cơ cao.
Thời gian ủ bệnh viêm gan B là 6 tuần đến 6 tháng (trung
bình 12-14 tuần). Khởi phát viêm gan B thường âm thầm hơn và nồng độ
aminotransferase trung bình cao hơn so với nhiễm HAV. Suy gan cấp xảy ra ở dưới 1% với
tỷ lệ tử vong lên tới 60%. Sau viêm gan B cấp, nhiễm HBV kéo dài ở 1−2%
người lớn có hệ miễn dịch bình thường, nhưng ở tỷ lệ cao hơn ở trẻ em và người
lớn suy giảm miễn dịch. Có khoảng 2,4 triệu người (bao gồm khoảng 1,47 triệu
người sinh ra ở nước ngoài từ vùng lưu hành) bị viêm gan B mạn tính ở Hoa Kỳ và
296 triệu trên toàn thế giới. So với dân số chung, tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính
tăng gấp 2-3 lần ở người da đen không phải gốc Tây Ban Nha/Latino và gấp 10 lần
ở người châu Á. Những người bị viêm gan B mạn tính, đặc biệt khi nhiễm HBV sớm
và sao chép virus kéo dài, có nguy cơ đáng kể xơ gan và HCC (lên tới 25−40%);
nam giới có nguy cơ cao hơn nữ giới.
PHÁT HIỆN LÂM SÀNG
A. Triệu chứng và Dấu hiệu
Hình ảnh lâm sàng viêm gan B rất thay đổi, từ nhiễm trùng không triệu chứng
không vàng da đến suy gan cấp và tử vong trong vài ngày đến vài tuần. Hình 18-2
cho thấy diễn biến điển hình của nhiễm HBV cấp. Khởi phát có thể đột ngột hoặc
từ từ, và các đặc điểm lâm sàng tương tự như viêm gan A cấp. Bệnh huyết thanh
có thể thấy sớm trong viêm gan B cấp. Sốt thường có và nhẹ. Hạ sốt và giảm mạch
thường trùng với khi bắt đầu vàng da. Nhiễm HBV có thể liên quan đến viêm cầu
thận, viêm đa động mạch nút, và hội chứng Guillain-Barré.
Hình 18-2. Diễn biến điển hình của viêm gan B cấp. Anti-HBe, kháng thể kháng HBeAg; anti-HBc, kháng thể kháng kháng nguyên lõi viêm gan B; anti-HBs, kháng thể kháng HBsAg; HBeAg, kháng nguyên viêm gan B; HBsAg, kháng nguyên bề mặt viêm gan B.
Bệnh
cấp thường giảm dần trong 2-3 tuần và hồi phục hoàn toàn về lâm sàng và xét
nghiệm sau 16 tuần. Trong 5−10% trường hợp, diễn biến có thể kéo dài hơn, nhưng
dưới 1% sẽ phát triển suy gan cấp. Viêm gan B có thể trở thành mạn tính.
B.
Kết quả Xét nghiệm
Các
đặc điểm xét nghiệm tương tự như viêm gan A cấp, mặc dù nồng độ
aminotransferase huyết thanh trung bình cao hơn trong viêm gan B cấp, và ứ mật
rõ rệt không phải đặc điểm. Kéo dài rõ rệt thời gian prothrombin trong viêm gan
nặng tương quan với tăng tỷ lệ tử vong.
Có
một số kháng nguyên và kháng thể cũng như HBV DNA liên quan đến nhiễm HBV và
hữu ích trong chẩn đoán. Giải thích các mô hình huyết thanh học phổ biến được
trình bày trong Bảng 18-5.
- HBsAg – Sự xuất hiện
của HBsAg trong huyết thanh là bằng chứng đầu tiên của nhiễm trùng, xuất
hiện trước bằng chứng sinh hóa của bệnh gan, và tồn tại trong suốt bệnh
lâm sàng. HBsAg kéo dài hơn 6 tháng sau bệnh cấp có nghĩa là viêm gan B
mạn tính.
- Anti-HBs – Kháng thể
đặc hiệu kháng HBsAg (anti-HBs) xuất hiện ở hầu hết các cá nhân sau khi
HBsAg được thanh thải và sau khi tiêm vắc xin viêm gan B thành công. Sự
biến mất của HBsAg và xuất hiện anti-HBs báo hiệu phục hồi từ nhiễm HBV,
không lây nhiễm và có miễn dịch.
- Anti-HBc – IgM anti-HBc
xuất hiện ngay sau khi HBsAg được phát hiện. Trong bối cảnh viêm gan cấp,
IgM anti-HBc chỉ ra chẩn đoán viêm gan B cấp, và nó lấp đầy khoảng trống
huyết thanh học ở những bệnh nhân hiếm gặp đã thanh thải HBsAg nhưng chưa
có anti-HBs phát hiện được. IgM anti-HBc có thể tồn tại 3-6 tháng, đôi khi
lâu hơn, và có thể xuất hiện lại trong các đợt bùng phát của viêm gan B
mạn tính trước đó không hoạt động. IgG anti-HBc cũng xuất hiện trong viêm
gan B cấp nhưng tồn tại vô thời hạn, bất kể bệnh nhân hồi phục (với sự
xuất hiện của anti-HBs trong huyết thanh) hoặc phát triển viêm gan B mạn
tính (với HBsAg kéo dài). Ở người không có triệu chứng như người hiến máu,
anti-HBc đơn độc không có kết quả huyết thanh học HBV dương tính khác có
thể đại diện cho kết quả dương tính giả hoặc nhiễm trùng tiềm ẩn trong đó
HBV DNA có thể phát hiện trong huyết thanh chỉ bằng xét nghiệm PCR.
- HBeAg – HBeAg là một
dạng tiết của HBcAg xuất hiện trong huyết thanh trong thời gian ủ bệnh
ngay sau khi phát hiện HBsAg. HBeAg chỉ ra sự sao chép virus và khả năng
lây nhiễm. HBeAg kéo dài quá 3 tháng cho thấy khả năng cao bị viêm gan B
mạn tính. Sự biến mất của nó thường được theo sau bởi sự xuất hiện của
anti-HBe, thường báo hiệu giảm sao chép virus và giảm khả năng lây nhiễm.
- HBV DNA – Sự hiện diện
của HBV DNA trong huyết thanh thường song hành với sự hiện diện của HBeAg,
mặc dù HBV DNA là dấu hiệu nhạy và chính xác hơn của sao chép virus và khả
năng lây nhiễm. Ở một số bệnh nhân viêm gan B mạn tính, HBV DNA có ở nồng
độ cao mà không có HBeAg trong huyết thanh do sự phát triển của một biến
thể gây bệnh trong vùng promoter lõi hoặc vùng tiền lõi của gen mã hóa
HBcAg; các biến thể này ngăn tổng hợp HBeAg trong tế bào gan bị nhiễm. Khi
các biến thể bổ sung trong gen lõi cũng có mặt, mức độ nặng của nhiễm HBV
tăng lên và nguy cơ xơ gan tăng.
Bảng 18-5. Các mô hình huyết thanh học phổ biến trong nhiễm
virus viêm gan B (HBV) và giải thích của chúng.
|
HBsAg |
Anti-HBs |
Anti-HBc |
HBeAg |
Anti-HBe |
Ý nghĩa / Biện luận |
|
+ |
- |
IgM |
+ |
- |
Viêm gan B cấp tính |
|
+ |
- |
IgG¹ |
+ |
- |
Viêm gan B mạn tính với sự nhân lên của virus đang hoạt động |
|
+ |
- |
IgG |
- |
+ |
Trạng thái người mang mầm bệnh HBV không hoạt động (nồng
độ HBV DNA thấp) hoặc viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính với sự nhân
lên của virus đang hoạt động (nồng độ HBV DNA cao) |
|
+ |
+ |
IgG |
+ hoặc - |
+ hoặc - |
Viêm gan B mạn tính với anti-HBs dị loại (khoảng 10% các
trường hợp) |
|
- |
- |
IgM |
+ hoặc - |
- |
Viêm gan B cấp tính |
|
- |
+ |
IgG |
- |
+ hoặc - |
Hồi phục sau khi nhiễm viêm gan B (đã có miễn dịch tự
nhiên) |
|
- |
+ |
- |
- |
- |
Đã tiêm vắc-xin (đã có miễn dịch) |
|
- |
- |
IgG |
- |
- |
Dương tính giả; hoặc ít gặp hơn là đã từng nhiễm bệnh
trong quá khứ xa |
CHẨN
ĐOÁN PHÂN BIỆT
Chẩn
đoán phân biệt bao gồm viêm gan A và các rối loạn tương tự liệt kê trong chẩn
đoán phân biệt viêm gan A cấp. Ngoài ra, phải xem xét đồng nhiễm với virus viêm
gan D (HDV).
DỰ
PHÒNG
Không
cần cách ly nghiêm ngặt bệnh nhân. Rửa tay kỹ bởi nhân viên y tế có thể tiếp
xúc với dụng cụ, bộ đồ giường hoặc quần áo bị nhiễm là cần thiết. Nhân viên y
tế nên xử lý kim tiêm dùng một lần cẩn thận và không đậy nắp lại. Sàng lọc máu
hiến tặng cho HBsAg, anti-HBc, và anti-HCV đã giảm nguy cơ viêm gan liên quan
truyền máu rõ rệt. Tất cả phụ nữ mang thai nên được xét nghiệm HBsAg. Người
nhiễm HBV nên quan hệ tình dục an toàn. Dự phòng miễn dịch cho trẻ sơ sinh làm
giảm nguy cơ lây truyền chu sinh nhiễm HBV; khi nồng độ HBV DNA huyết thanh của
mẹ từ 200.000 IU/mL trở lên, nên bắt đầu điều trị kháng virus cho mẹ trong tam
cá nguyệt thứ ba (xem Viêm gan B mạn tính & Viêm gan D mạn tính). Nhân viên
y tế nhiễm HBV không bị loại trừ khỏi hành nghề y hoặc nha khoa nếu họ tuân
theo hướng dẫn của CDC.
Globulin
miễn dịch viêm gan B (HBIG) có thể bảo vệ – hoặc làm giảm mức độ nặng của bệnh
– nếu được dùng trong vòng 7 ngày sau phơi nhiễm (liều người lớn 0,06 mL/kg cân
nặng) sau đó bắt đầu tiêm vắc xin HBV. Phương pháp này được khuyến cáo cho
người chưa tiêm phòng tiếp xúc với vật liệu nhiễm HBsAg qua niêm mạc hoặc qua
vết thương da và cho những người có quan hệ tình dục với người nhiễm HBV (không
phụ thuộc vào sự hiện diện hay vắng mặt của HBeAg trong nguồn). HBIG cũng được
chỉ định cho trẻ sơ sinh của bà mẹ HBsAg dương tính, đồng thời bắt đầu tiêm vắc
xin, cả hai trong vòng 12 giờ sau sinh (tiêm tại các vị trí khác nhau).
CDC
khuyến cáo tiêm vắc xin HBV cho tất cả trẻ sơ sinh và trẻ em ở Hoa Kỳ và từ năm
2022, tất cả người lớn dưới 60 tuổi, cũng như những người từ 60 tuổi trở lên có
yếu tố nguy cơ nhiễm HBV. Hơn 90% người nhận vắc xin có đáp ứng kháng thể bảo
vệ chống viêm gan B; người suy giảm miễn dịch, bao gồm bệnh nhân lọc máu (đặc
biệt với đái tháo đường), đáp ứng kém (xem Bảng 32-7). Phác đồ chuẩn cho người
lớn là 10-20 mcg (tùy theo công thức) tiêm nhắc lại sau 1 và 6 tháng, nhưng các
lịch tiêm thay thế đã được phê duyệt, bao gồm lịch tiêm nhanh 0, 1, 2, và 12
tháng và 0, 7, và 21 ngày cộng 12 tháng. Để hấp thu đáng tin cậy nhất, cơ delta
là vị trí tiêm ưu tiên. Một loại vắc xin mới hơn, Heplisav-B, sử dụng thành
phần kích thích hệ miễn dịch mới, được FDA phê duyệt cho người lớn năm 2017.
Tiêm chủng chỉ cần hai mũi, và Heplisav-B có vẻ hiệu quả hơn vắc xin HBV trước
đây. Một loại vắc xin HBV tái tổ hợp ba kháng nguyên, ba liều (PreHevbrio) được
FDA cấp phép năm 2022; nó ít nhất có tính sinh miễn dịch tương đương vắc xin
đơn kháng nguyên cũ nhưng chưa được so sánh với Heplisav-B. Khi cần ghi nhận
chuyển đổi huyết thanh, có thể kiểm tra hiệu giá anti-HBs sau tiêm. Bảo vệ
dường như tuyệt vời ngay cả khi hiệu giá giảm – kéo dài ít nhất 20 năm – và
tiêm nhắc lại không được khuyến cáo định kỳ nhưng được khuyên cho người suy
giảm miễn dịch khi hiệu giá anti-HBs giảm dưới 10 mIU/mL. Đối với người không
đáp ứng vắc xin, ba liều vắc xin bổ sung có thể tạo hiệu giá anti-HBs huyết
thanh ở 30-50% người. Nhân đôi liều chuẩn hoặc sử dụng Heplisav-B cũng có thể
có hiệu quả. Tiêm chủng phổ cập trẻ sơ sinh ở các quốc gia lưu hành HBV đã làm
giảm tỷ lệ HCC. Tiêm chủng không đầy đủ là yếu tố dự báo quan trọng nhất của
bệnh gan ở người được tiêm. Thật không may, khoảng 64 triệu người lớn có nguy
cơ cao ở Hoa Kỳ vẫn dễ bị nhiễm HBV.
ĐIỀU
TRỊ
Điều
trị viêm gan B cấp giống như viêm gan A cấp. Bệnh não hoặc rối loạn đông máu
nặng chỉ ra suy gan cấp, và nhập viện tại trung tâm ghép gan là bắt buộc. Điều
trị kháng virus thường không cần ở bệnh nhân viêm gan B cấp nhưng thường được
chỉ định trong các trường hợp suy gan cấp do HBV cũng như trong đợt bùng phát
tự phát của viêm gan B mạn tính biểu hiện suy gan trên nền mạn tính (xem Suy
gan cấp).
TIÊN
LƯỢNG
Ở
hầu hết bệnh nhân, hồi phục lâm sàng hoàn toàn trong 3-6 tháng. Bằng chứng xét
nghiệm rối loạn chức năng gan có thể kéo dài hơn, nhưng hầu hết bệnh nhân hồi
phục hoàn toàn. Tỷ lệ tử vong cho viêm gan B cấp là 0,1−1% nhưng cao hơn với
viêm gan D kèm theo.
Viêm
gan mạn tính, đặc trưng bởi nồng độ aminotransferase tăng hơn 3-6 tháng, phát
triển ở 1−2% người lớn có hệ miễn dịch bình thường mắc viêm gan B cấp, nhưng ở
tới 90% trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị nhiễm và một tỷ lệ đáng kể người lớn suy giảm
miễn dịch. Cuối cùng, xơ gan phát triển ở tới 40% người viêm gan B mạn tính;
nguy cơ xơ gan còn cao hơn ở bệnh nhân nhiễm HBV đồng nhiễm HCV hoặc HIV. Bệnh
nhân xơ gan có nguy cơ HCC với tỷ lệ 3−5% mỗi năm. Ngay cả khi không có xơ gan,
bệnh nhân viêm gan B mạn tính – đặc biệt những người có sao chép virus hoạt
động – có nguy cơ HCC cao hơn.
Khi
nào cần giới thiệu chuyên khoa
Giới
thiệu bệnh nhân viêm gan cấp cần sinh thiết gan để chẩn đoán.
Khi
nào cần nhập viện
Có
bệnh não. INR lớn hơn 1,6. Bệnh nhân không thể duy trì nước.
VIÊM
GAN C CẤP VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC GÂY VIÊM GAN VIRUS CẤP
Các
virus khác ngoài HAV và HBV có thể gây viêm gan cấp là virus viêm gan C (HCV),
HDV, và virus viêm gan E (HEV) (một bệnh viêm gan lây truyền qua đường tiêu hóa
thấy ở dạng dịch ở châu Á, Trung Đông, và Bắc Phi và rải rác ở các nước phương
Tây). Human pegivirus (trước đây là virus viêm gan G [HGV]) hiếm khi, nếu có,
gây viêm gan rõ rệt. Ở người suy giảm miễn dịch và hiếm khi ở người có hệ miễn
dịch bình thường, cytomegalovirus, virus Epstein-Barr, và virus herpes simplex
nên được xem xét trong chẩn đoán phân biệt viêm gan. Hội chứng hô hấp Trung
Đông (MERS), hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), nhiễm coronavirus SARS
(SARS-CoV-2), nhiễm virus Ebola, và cúm có thể liên quan đến tăng nồng độ
aminotransferase huyết thanh (đôi khi rõ rệt). Các tác nhân gây bệnh chưa xác
định và các tác nhân hiếm gặp khác chiếm một tỷ lệ nhỏ các trường hợp viêm gan
virus cấp.
1.
Viêm gan C
HCV
là một virus RNA sợi đơn (hepacivirus) với các đặc tính tương tự flavivirus.
Tám kiểu gen HCV đã được xác định. Trong quá khứ, HCV chịu trách nhiệm cho hơn
90% trường hợp viêm gan sau truyền máu; tuy nhiên, xét nghiệm máu hiến tặng cho
HCV đã giảm nguy cơ viêm gan C liên quan truyền máu từ 10% năm 1990 xuống
khoảng 1 ca trên 2 triệu đơn vị năm 2011. Hơn 60% ca nhiễm HCV lây truyền qua
tiêm chích ma túy, và cả tái nhiễm và bội nhiễm HCV đều phổ biến ở người tiêm
chích ma túy tích cực. Xăm hình, xỏ khuyên, và lọc máu là các yếu tố nguy cơ.
Nguy cơ lây truyền qua đường tình dục và từ mẹ sang con thấp và có thể cao nhất
ở một nhóm nhỏ bệnh nhân có nồng độ HCV RNA trong máu cao. Có nhiều bạn tình có
thể làm tăng nguy cơ nhiễm HCV, và đồng nhiễm HIV, quan hệ tình dục qua đường
hậu môn không được bảo vệ có xuất tinh, và quan hệ tình dục khi sử dụng
methamphetamine làm tăng nguy cơ lây truyền HCV ở nam quan hệ tình dục đồng
giới. Lây truyền qua cho con bú chưa được ghi nhận. Một đợt bùng phát viêm gan
C ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch đã xảy ra ở một số người nhận globulin miễn
dịch tĩnh mạch. Lây truyền tại bệnh viện và cơ sở ngoại trú đã xảy ra qua các
lọ nước muối đa liều dùng để rửa catheter tĩnh mạch trung tâm; qua tái sử dụng
bơm tiêm dùng một lần; qua "chuyển hướng" thuốc và giả mạo opioid
tiêm bởi nhân viên y tế bị nhiễm; qua ô nhiễm chung lọ nước muối, dược phẩm
phóng xạ, và chất làm xơ cứng; qua dụng cụ nội soi khử trùng không đầy đủ; và
giữa các bệnh nhân nằm viện trong khoa gan. Ở các nước đang phát triển, các
thực hành y tế không an toàn dẫn đến một số lượng đáng kể các ca nhiễm HCV. Bị
giam trong tù là một yếu tố nguy cơ, với tỷ lệ huyết thanh dương tính 26% ở Hoa
Kỳ và tỷ lệ lên tới 90% ở một số bang.
Ở
nhiều bệnh nhân, nguồn lây nhiễm không rõ. Đồng nhiễm HCV có ở ít nhất 30%
người nhiễm HIV. Nhiễm HIV dẫn đến tăng nguy cơ suy gan cấp và tiến triển nhanh
hơn của viêm gan C mạn tính đến xơ gan; ngoài ra, HCV làm tăng độc tính gan của
thuốc kháng retrovirus. Số ca nhiễm HCV mạn tính ở Hoa Kỳ được báo cáo đã giảm
từ 3,2 triệu năm 2001 xuống 2,3 triệu năm 2013 với mức tăng nhỏ lên 2,4 triệu
giữa 2013 và 2016, mặc dù ước tính ít nhất 4,6 triệu người phơi nhiễm và 3,5
triệu nhiễm cũng được báo cáo. Tỷ lệ mới các ca viêm gan C cấp có triệu chứng
giảm từ 1992 đến 2005, nhưng sau 2002, sự gia tăng được quan sát ở người 15-24
tuổi, do tiêm chích ma túy, và từ năm 2010, tỷ lệ mắc tổng thể đã tăng 3,8 lần.
Sự gia tăng cũng được quan sát ở phụ nữ tuổi sinh sản và phụ nữ mang thai (5,3
ca trên 1000 ca mang thai năm 2018). Trên toàn cầu, khoảng 58 triệu người bị
nhiễm virus viêm gan C mạn tính, với khoảng 1,5 triệu ca nhiễm mới mỗi năm. WHO
ước tính năm 2019, khoảng 290.000 người chết vì viêm gan C, chủ yếu do xơ gan
và HCC.
PHÁT
HIỆN LÂM SÀNG
A.
Triệu chứng và Dấu hiệu
Hình
18-3 cho thấy diễn biến điển hình của nhiễm HCV. Thời gian ủ bệnh viêm gan C
trung bình 6-7 tuần. Bệnh lâm sàng không triệu chứng trong 70% hoặc nhẹ và đặc
trưng bởi tăng aminotransferase lên xuống và tỷ lệ viêm gan mạn tính cao (hơn
80%). Ở bệnh nhân mang thai có viêm gan C mạn tính, nồng độ aminotransferase
huyết thanh thường bình thường hóa mặc dù viremia kéo dài, chỉ tăng trở lại sau
sinh.
Hình 18–3. Diễn tiến điển hình của viêm gan C cấp và mạn tính. Anti-HCV: kháng thể kháng virus viêm gan C bằng xét nghiệm miễn dịch enzym; HCV RNA PCR: RNA của virus viêm gan C bằng kỹ thuật PCR
B.
Kết quả Xét nghiệm
Chẩn
đoán viêm gan C dựa trên xét nghiệm miễn dịch enzym (EIA) phát hiện kháng thể
kháng HCV. Anti-HCV không có tác dụng bảo vệ, và ở bệnh nhân viêm gan cấp hoặc
mạn tính, sự hiện diện của nó trong huyết thanh thường cho thấy HCV là nguyên
nhân. Chẩn đoán viêm gan C có thể được xác nhận bằng xét nghiệm HCV RNA. Một số
người thỉnh thoảng có anti-HCV mà không có HCV RNA trong huyết thanh, gợi ý
phục hồi từ nhiễm HCV trong quá khứ.
BIẾN
CHỨNG
HCV
là một yếu tố gây bệnh trong cryoglobulinemia hỗn hợp và viêm cầu thận màng
tăng sinh và có thể liên quan đến lichen phẳng, viêm tuyến giáp tự miễn, viêm
tuyến nước bọt lymphocytic, xơ phổi vô căn, porphyria cutanea tarda rải rác,
gammopathies đơn dòng, CVD, và đái tháo đường type 2. Nhiễm HCV làm tăng 20−30%
hoặc hơn nguy cơ u lympho không Hodgkin tế bào B; Nhiễm HCV mạn tính (đặc biệt
kiểu gen 1) liên quan đến tăng nguy cơ bệnh thận giai đoạn cuối. Thoái hóa mỡ
gan là đặc điểm đặc biệt của nhiễm HCV kiểu gen 3 và cũng có thể xảy ra ở bệnh
nhân nhiễm các kiểu gen HCV khác có yếu tố nguy cơ bệnh gan nhiễm mỡ. Nhiễm HCV
trong thai kỳ liên quan đến sinh non và ứ mật trong gan do thai nghén.
DỰ
PHÒNG
USPSTF
khuyến cáo sàng lọc nhiễm HCV cho người lớn không triệu chứng 18-79 tuổi. CDC
khuyến cáo sàng lọc HCV cho tất cả người trên 18 tuổi ít nhất một lần trong đời
và tất cả phụ nữ mang thai (trong cả hai trường hợp ngoại trừ những nơi hiếm
gặp mà tỷ lệ nhiễm HCV thấp hơn 0,1%). Người nhiễm HCV nên quan hệ tình dục an
toàn, nhưng có ít bằng chứng HCV lây truyền dễ dàng qua tiếp xúc tình dục hoặc
chu sinh, và không có biện pháp phòng ngừa cụ thể nào được khuyến cáo cho người
nhiễm trong mối quan hệ một vợ một chồng hoặc cho phụ nữ mang thai nhiễm. Vì
hầu hết các ca nhiễm HCV đều qua tiêm chích ma túy, các quan chức y tế công
cộng khuyến cáo tránh dùng chung kim tiêm và tạo ra các chương trình trao đổi
kim tiêm cho người tiêm chích ma túy. Hiện chưa có vắc xin cho HCV. Tiêm vắc
xin HAV (sau sàng lọc miễn dịch trước đó) và HBV được khuyến cáo cho bệnh nhân
viêm gan C mạn tính.
ĐIỀU
TRỊ
Một
đợt 6 tuần lepidasvir và sofosbuvir đã được chứng minh là ngăn ngừa viêm gan
mạn tính ở bệnh nhân viêm gan C cấp kiểu gen 1 và không có thanh thải tự phát
sau 3 tháng (xem Viêm gan virus mạn tính). Điều trị viêm gan C cấp có thể hiệu
quả về chi phí và đặc biệt được khuyến cáo ở người tiêm chích ma túy.
TIÊN
LƯỢNG
Ở
hầu hết bệnh nhân, hồi phục lâm sàng hoàn toàn trong 3-6 tháng. Bằng chứng xét
nghiệm rối loạn chức năng gan có thể kéo dài hơn. Tỷ lệ tử vong tổng thể dưới
1%, nhưng tỷ lệ được báo cáo cao hơn ở người lớn tuổi và đã giảm từ năm 2013.
Suy gan cấp do HCV hiếm ở Hoa Kỳ.
Viêm
gan mạn tính, tiến triển chậm trong nhiều trường hợp, phát triển ở tới 85% tất
cả người mắc viêm gan C cấp. Cuối cùng, xơ gan phát triển ở tới 30% người viêm
gan C mạn tính; nguy cơ xơ gan và mất bù gan cao hơn ở bệnh nhân đồng nhiễm cả
HCV và HBV hoặc HIV. Bệnh nhân xơ gan có nguy cơ HCC với tỷ lệ 3−5% mỗi năm. Tỷ
lệ mắc bệnh và tử vong lâu dài ở bệnh nhân viêm gan C mạn tính thấp hơn ở người
da đen so với da trắng và thấp nhất ở người nhiễm HCV kiểu gen 2 và cao nhất ở
người nhiễm HCV kiểu gen 3.
* Viêm gan C cấp => 85% tiến triển viêm gan C mạn => 30% VGC mạn tiến triển xơ gan
2.
Viêm gan D
HDV
là một virus RNA khiếm khuyết gây viêm gan chỉ khi kết hợp với nhiễm HBV và cụ
thể chỉ khi có HBsAg; nó được thanh thải khi HBsAg được thanh thải.
HDV
có thể đồng nhiễm với HBV hoặc có thể bội nhiễm ở người viêm gan B mạn tính,
thường qua tiếp xúc qua da. Khi viêm gan D cấp trùng với nhiễm HBV cấp, nhiễm
trùng nói chung có mức độ nặng tương tự như viêm gan B cấp đơn thuần, và cả hai
virus thường được thanh thải. Trong viêm gan B mạn tính, bội nhiễm HDV mang
tiên lượng ngắn hạn xấu hơn, thường dẫn đến suy gan cấp hoặc viêm gan mạn tính
nặng tiến triển nhanh đến xơ gan, mặc dù 50% bệnh nhân có diễn biến chậm hơn.
Từ
12 đến 72 triệu người nhiễm HDV trên toàn thế giới. Các ca mới viêm gan D hiếm
ở Hoa Kỳ chủ yếu do kiểm soát nhiễm HBV, và các ca thấy hiện nay thường từ các
nhóm người nhiễm từ nhiều năm trước đã sống sót sau tác động ban đầu của viêm
gan D và hiện có xơ gan. Những bệnh nhân này có nguy cơ mất bù và tăng nguy cơ
HCC gấp ba lần. HDV được ước tính gây ra 18% ca xơ gan và 20% ca HCC liên quan
đến nhiễm HBV. Các ca mới thấy chủ yếu ở người nhập cư từ các vùng lưu hành,
bao gồm châu Phi, Trung Á, Đông Âu, và vùng Amazon ở Brazil. Có tới 13% người
mang HBV bị nhiễm HDV trên toàn thế giới; các yếu tố nguy cơ chính là tiêm
chích ma túy, hành vi tình dục nguy cơ cao, và đồng nhiễm HIV và HCV. Chẩn đoán
viêm gan D được thực hiện bằng phát hiện kháng thể kháng kháng nguyên viêm gan
D (anti-HDV) và, ở nơi có sẵn, kháng nguyên viêm gan D (HDAg) hoặc HDV RNA
trong huyết thanh.
3.
Viêm gan E
HEV
là một virus RNA hepevirus (trong họ Hepeviridae) kích thước 27- đến 34−nm và
là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm gan virus cấp trên toàn thế giới. HEV
kiểu gen 1 và 2 gây viêm gan cấp qua đường phân-miệng trên khắp Trung và Đông
Nam Á. Nhiễm HEV nên được xem xét ở bệnh nhân viêm gan cấp sau khi đi du lịch
đến vùng lưu hành. Mặc dù không phổ biến ở Hoa Kỳ, tới 20% dân số có kháng thể
kháng HEV. Trong các trường hợp hiếm, viêm gan E có thể bị nhầm với tổn thương
gan do thuốc. Ở các nước công nghiệp hóa, HEV kiểu gen 3 và 4 có thể lây lan
qua động vật, như lợn, và việc nuôi thú cưng trong nhà và tiêu thụ nội tạng
chưa nấu chín hoặc sữa bò nhiễm bệnh là các yếu tố nguy cơ. Nguy cơ có vẻ tăng
ở bệnh nhân lọc máu.
Bệnh
thường tự giới hạn (không có trạng thái mang virus), nhưng các trường hợp viêm
gan mạn tính tiến triển nhanh đến xơ gan được cho là do HEV kiểu gen 3 đã được
báo cáo ở người ghép tạng và hiếm khi ở người nhiễm HIV, bệnh gan từ trước,
hoặc ung thư đang hóa trị. Chẩn đoán viêm gan E cấp được thực hiện bằng xét
nghiệm IgM anti-HEV trong huyết thanh, mặc dù các xét nghiệm có sẵn có thể
không đáng tin cậy và không được FDA phê duyệt.
Các
biểu hiện ngoài gan được báo cáo bao gồm viêm khớp, viêm tụy, viêm tuyến giáp,
viêm cơ tim, viêm cầu thận, gammopathy đơn dòng, giảm tiểu cầu, thiếu máu bất
sản, nhiều biến chứng thần kinh, bao gồm hội chứng Guillain-Barré và liệt cơ
thần kinh (ảnh hưởng đến đám rối thần kinh cánh tay hai bên), và hội chứng thực
bào máu lymphohistiocytosis. Ở các vùng lưu hành, tỷ lệ tử vong cao (15−25%) ở
phụ nữ mang thai. Nguy cơ mất bù gan và tử vong tăng ở bệnh nhân bệnh gan mạn
tính từ trước.
Một
đợt điều trị 3 tháng bằng ribavirin uống đã được báo cáo là làm sạch HEV RNA
khỏi huyết thanh ở 78% bệnh nhân nhiễm HEV kéo dài và có thể được xem xét ở
bệnh nhân viêm gan E cấp nặng. Cải thiện vệ sinh công cộng làm giảm nguy cơ
nhiễm HEV ở các vùng lưu hành. Vắc xin tái tổ hợp chống HEV đã cho thấy triển
vọng trong các thử nghiệm lâm sàng, và một loại (Hecolin) được phê duyệt ở
Trung Quốc.
SUY GAN CẤP
TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN CƠ BẢN
Có thể tối cấp hoặc bán tối cấp; cả hai dạng đều có tiên lượng xấu.
Acetaminophen và phản ứng thuốc đặc ứng là những nguyên nhân phổ biến nhất.
CÂN NHẮC CHUNG
Suy gan cấp có thể tối cấp (fulminant) hoặc bán tối cấp (subfulminant). Suy gan
tối cấp đặc trưng bởi sự phát triển của bệnh não gan trong vòng 8 tuần sau khởi
phát tổn thương gan cấp. Rối loạn đông máu (INR 1,5 trở lên) luôn hiện diện.
Suy gan bán tối cấp xảy ra khi các dấu hiệu này xuất hiện từ 8 tuần đến 6 tháng
sau khởi phát tổn thương gan cấp và có tiên lượng xấu tương tự. Suy gan trên nền
mạn tính (acute-on-chronic liver failure) đề cập đến sự suy giảm cấp tính chức
năng gan (thường do nhiễm trùng) và suy các cơ quan khác kèm theo ở người có bệnh
gan mạn tính từ trước.
Khoảng 1600 ca suy gan cấp xảy ra mỗi năm ở Hoa Kỳ. Độc tính
do acetaminophen (một chất độc gan trực tiếp) là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm
ít nhất 45% trường hợp. Các vụ tự tử chiếm 44% ca suy gan
do acetaminophen, và quá liều không chủ ý ("tai nạn điều trị"), thường
là do giảm ngưỡng liều độc do uống rượu mạn tính hoặc nhịn ăn và đã được báo
cáo sau phẫu thuật giảm cân, chiếm ít nhất 48%. Các nguyên nhân khác bao gồm
phản ứng thuốc đặc ứng (trong một số trường hợp qua trung gian miễn dịch)
(nguyên nhân phổ biến thứ hai, với kháng sinh, thuốc chống lao, và thuốc chống
động kinh) và nguyên nhân phổ biến thứ hai trong các trường hợp do thảo dược và
thực phẩm bổ sung kể từ năm 1995), viêm gan virus, nấm độc (Amanita
phalloides), sốc, say nóng, hội chứng Budd-Chiari, ung thư (thường là u
lympho), bệnh Wilson, hội chứng Reye, gan nhiễm mỡ cấp tính trong thai kỳ và
các rối loạn oxy hóa axit béo khác, viêm gan tự miễn, nhiễm parvovirus B19, và
hiếm khi co giật lớn. Nguyên nhân không xác định trong khoảng 5% trường
hợp. Nguy cơ suy gan cấp tăng ở bệnh nhân đái tháo đường, và kết cục xấu hơn ở
bệnh nhân béo phì. Thảo dược và thực phẩm bổ sung được cho là góp phần vào suy
gan cấp trong một tỷ lệ đáng kể các trường hợp, bất kể nguyên nhân, và có thể
liên quan đến tỷ lệ sống sót không ghép gan thấp hơn. Suy gan trên nền mạn tính
thường được thúc đẩy bởi nhiễm trùng vi khuẩn hoặc cơn say rượu và viêm gan do
rượu.
Viêm gan virus chiếm 12% tất cả các trường hợp suy
gan cấp. Sự giảm viêm gan virus là nguyên nhân chính của suy gan cấp một phần
do tiêm chủng phổ cập trẻ sơ sinh và trẻ em chống viêm gan B và sự sẵn có của vắc
xin viêm gan A. Suy gan cấp có thể xảy ra sau khi tái hoạt động viêm gan B ở
người mang virus được điều trị ức chế miễn dịch. Ở các vùng lưu hành, viêm gan
E là nguyên nhân quan trọng gây suy gan cấp, đặc biệt ở phụ nữ mang thai. Viêm
gan C là nguyên nhân hiếm gặp gây suy gan cấp ở Hoa Kỳ, nhưng viêm gan A hoặc B
cấp kết hợp với viêm gan C mạn tính có thể gây suy gan cấp.
PHÁT HIỆN LÂM SÀNG
Triệu chứng tiêu hóa, đáp ứng viêm hệ thống, và rối loạn chức năng thận thường
gặp. Chảy máu có ý nghĩa lâm sàng hiếm và phản ánh viêm hệ thống nặng hơn là rối
loạn đông máu. Suy tuyến thượng thận và tổn thương cơ tim dưới lâm sàng (biểu
hiện bằng tăng nồng độ troponin I huyết thanh) thường làm biến chứng suy gan cấp.
Vàng da có thể vắng mặt hoặc tối thiểu sớm, nhưng xét nghiệm cho thấy tổn
thương tế bào gan nặng. Trong ngộ độc acetaminophen, tăng aminotransferase huyết
thanh thường rất cao (trên 5000 U/L), và acetaminophen không phát hiện được
trong huyết tương trong 50% trường hợp. Trong suy gan cấp do thoái
hóa mỡ vi thể (ví dụ, gan nhiễm mỡ cấp tính trong thai kỳ), tăng
aminotransferase huyết thanh có thể khiêm tốn (dưới 300U/L). Hơn 10% bệnh
nhân có nồng độ amylase huyết thanh tăng ít nhất ba lần giới hạn trên bình thường,
thường do rối loạn chức năng thận. Nồng độ amoniac máu thường tăng và tương
quan (cùng với điểm số MELD) với sự phát triển của bệnh não và tăng áp lực nội
sọ; tăng áp lực nội sọ hiếm khi phát triển khi nồng độ amoniac máu dưới 75mcmol/L nhưng
chắc chắn khi lớn hơn 200mcmol/L. Mức độ nặng của suy cơ quan ngoài gan
(theo đánh giá bằng thang điểm SOFA) cũng tương quan với khả năng tăng áp lực nội
sọ. AKI thường làm biến chứng suy gan trên nền mạn tính, cũng có thể biến chứng
bởi suy phổi, tuần hoàn và não.
ĐIỀU
TRỊ
Điều
trị suy gan cấp hướng đến đạt được ổn định chuyển hóa và huyết động. Thể tích
nội mạch cần được duy trì, nhưng nên tránh truyền dịch nhược trương khối lượng
lớn. Norepinephrine là thuốc vận mạch ưu tiên; vasopressin có thể được thêm vào
cho tụt huyết áp kéo dài. Nên ngăn ngừa hạ đường huyết. Có thể cần lọc máu ngắt
quãng. Để bảo tồn khối cơ và chức năng miễn dịch, nên truyền trung tâm protein
1−1,5g/kg/ngày nếu bệnh nhân không thể ăn uống trong vòng 5-7 ngày, với theo
dõi nồng độ amoniac cẩn thận. (Truyền tĩnh mạch trung tâm vì lưu lượng máu cao, làm loãng nhanh, áp lực keo không tăng quá nhanh -> giảm nguy cơ tắc mạch). Rối loạn đông máu thường không nên được điều
chỉnh. (Giữ INR thật để đánh giá tiên lượng, chỉ điều chỉnh khi có tình trạng chảy máu hoặc chuẩn bị làm thủ thuật)
Phù
não và nhiễm trùng huyết là những nguyên nhân tử vong hàng đầu. Điều trị kháng
sinh dự phòng làm giảm nguy cơ nhiễm trùng, quan sát thấy tới 90%, nhưng không
ảnh hưởng đến sống sót và không được khuyến cáo định kỳ. Nên lấy các mẫu cấy vi
khuẩn tầm soát cho bệnh nhân nhập viện. Đối với nghi ngờ nhiễm trùng huyết, chỉ
định kháng sinh phổ rộng. Mặc dù tỷ lệ suy tuyến thượng thận cao,
corticosteroid không làm giảm tỷ lệ tử vong và có thể làm giảm sống sót toàn bộ
ở bệnh nhân có điểm MELD cao, mặc dù chúng có thể làm giảm yêu cầu thuốc vận
mạch. Dự phòng bệnh dạ dày do stress bằng thuốc kháng thụ thể H2 hoặc PPI được
khuyến cáo. Sử dụng acetylcysteine 140mg/kg uống sau đó 70mg/kg uống mỗi 4 giờ
trong tổng 17 liều hoặc 150mg/kg trong dextrose 5% tĩnh mạch trong 15 phút,
tiếp theo 50mg/kg trong 4 giờ và sau đó 100mg/kg trong 16 giờ) ngăn ngừa độc
tính acetaminophen nếu dùng trong vòng 12 giờ sau khi uống và có thể có lợi khi
dùng tới 72 giờ sau khi uống. Đối với quá liều acetaminophen lớn, điều trị bằng
acetylcysteine tĩnh mạch có thể cần kéo dài cho đến khi nồng độ
aminotransferase huyết thanh giảm và nồng độ acetaminophen huyết thanh không
phát hiện được. Điều trị bằng acetylcysteine cải thiện lưu lượng máu não và oxy
hóa cũng như sống sót không ghép gan ở bệnh nhân bệnh não giai đoạn 1 hoặc 2 do
suy gan cấp bất kỳ nguyên nhân. Penicillin G 300.000 đến 1 triệu U/kg/ngày hoặc
silibinin (silymarin hoặc cây kế sữa), chưa được cấp phép ở Hoa Kỳ, được dùng
cho bệnh nhân ngộ độc nấm. Các nucleoside tương tự được khuyến cáo cho bệnh
nhân suy gan cấp do HBV (xem Viêm gan virus mạn tính), và acyclovir tĩnh mạch
đã cho thấy lợi ích ở những người bị viêm gan do virus herpes simplex. Lọc
huyết tương kết hợp D-penicillamine đã được sử dụng trong suy gan cấp do bệnh
Wilson. Hoạt động co giật dưới lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân suy gan cấp,
nhưng giá trị của phenytoin dự phòng không chắc chắn.
Chuyển sớm đến trung tâm ghép gan là rất quan trọng. Nên nâng đầu giường bệnh nhân lên 30 độ, và bệnh nhân có bệnh não giai đoạn 3 hoặc 4 nên đặt nội khí quản. Tại một số trung tâm, các cảm biến ngoài màng cứng được đặt ở bệnh nhân có nguy cơ cao tăng áp lực nội sọ để theo dõi áp lực nội sọ cho phù não sắp xảy ra. Mục tiêu là duy trì áp lực nội sọ dưới 20mm Hg và áp lực tưới máu não trên 70mm, nhưng đặt cảm biến có thể liên quan đến biến chứng. Lactulose và rifaximin có giá trị không chắc chắn. Mannitol, 0,5g/kg hoặc 100–200mL dung dịch 20% truyền tĩnh mạch trong 10 phút, có thể làm giảm phù não nhưng nên thận trọng ở bệnh nhân CKD tiến triển. Truyền tĩnh mạch nước muối ưu trương để gây tăng natri máu (nồng độ natri huyết thanh 145–155mEq/L) cũng có thể làm giảm tăng áp lực nội sọ. (Hàng rào máu-não (Blood-Brain Barrier) cho phép nước đi qua nhưng natri đi qua rất chậm, nên sẽ tạo ra sự chênh lệch thẩm thấu), tại hàng rào máu não (là các mao mạch não) thì có các kênh vận chuyển, chứ không có lỗ, khe hở, và còn được tế bào hình sao, là tb đệm thần kinh tham gia vận chuyển trao đổi trung gian chất với tb tk chính.
Hạ thân nhiệt đến nhiệt độ 32–34° có thể làm giảm áp lực nội sọ khi các
biện pháp khác thất bại và có thể cải thiện sống sót đủ lâu để cho phép ghép
gan, mặc dù một thử nghiệm có đối chứng không cho thấy lợi ích, và một số chuyên
gia khuyến cáo nhiệt độ đích 35–36°C. Giá trị của tăng thông khí không chắc
chắn. Barbiturat tác dụng ngắn, propofol, hoặc tiêm tĩnh mạch bolus
indomethacin, 25mg, được xem xét cho tăng áp lực nội sọ kháng trị. Thẩm phân
máu làm tăng áp lực nội sọ và nên tránh, nhưng thay thế thận liên tục có thể
được sử dụng, nếu cần, ở bệnh nhân AKI.
| Độ | Đặc điểm nổi bật (dễ nhớ) | Ghi chú lâm sàng |
|---|---|---|
| 0 | Không thấy gì trên lâm sàng | Chỉ phát hiện bằng test chuyên biệt (PHES). Ảnh hưởng lái xe, chất lượng sống |
| 1 | Thay đổi nhẹ: mất ngủ, dễ cáu, kém tập trung | Thường người nhà phát hiện trước |
| 2 | Asterixis + lơ mơ + mất định hướng thời gian | Đây là độ quan trọng nhất trong thực hành (bắt đầu có dấu hiệu rõ) |
| 3 | Ngủ nhiều, gọi tỉnh được nhưng nhanh ngủ lại | Nguy cơ cao, cần can thiệp tích cực |
| 4 | Hôn mê sâu | Tiên lượng xấu nhất |
TIÊN
LƯỢNG
Với
nhận biết sớm hơn về suy gan cấp, tần suất phù não đã giảm, và sống sót toàn bộ
đã được cải thiện đều đặn từ những năm 1970 và hiện lên tới 75%; tuy nhiên, tỷ
lệ sống sót trong suy gan cấp với bệnh não nặng có thể thấp tới 20%. Nguyên
nhân tổn thương gan là yếu tố quyết định quan trọng nhất của sống sót không
ghép gan. Trong độc tính acetaminophen, sống sót không ghép gan là 75% và không
quá 8% bệnh nhân được ghép gan. Tỷ lệ sống sót cũng thuận lợi cho viêm gan A,
viêm gan thiếu máu cục bộ, và bệnh gan liên quan thai kỳ. Đối với bệnh nhân suy
gan cấp không do acetaminophen, triển vọng xấu ở bệnh nhân dưới 10 và trên 40
tuổi và ở những người có phản ứng thuốc đặc ứng nhưng có vẻ được cải thiện khi
dùng acetylcysteine cho bệnh nhân bệnh não giai đoạn 1 hoặc 2. Các yếu tố tiên
lượng xấu khác là nồng độ bilirubin huyết thanh lớn hơn 18mg/dL, INR cao hơn
6,5, khởi phát bệnh não hơn 7 ngày sau khi vàng da, và nồng độ yếu tố V thấp
(dưới 20% bình thường ở bệnh nhân dưới 30 tuổi và 30% hoặc ít hơn ở người 30 tuổi
trở lên). Đối với suy gan cấp do acetaminophen, các chỉ số kết cục xấu là nhiễm
toan (pH<7,3), INR lớn hơn 6,5, và tăng nitơ huyết (creatinine huyết thanh
3,4 mg/dL hoặc cao hơn), trong khi tăng nồng độ alpha-fetoprotein huyết thanh
dự báo kết cục thuận lợi. Các yếu tố dự báo khác về sống sót kém ở bệnh nhân
suy gan cấp là nồng độ lactate máu tăng (lên lớn hơn 3,5mEq/L), nồng độ amoniac
máu tăng (lớn hơn 211mcg/dL), và có thể tăng phosphat máu (lớn hơn 3,7mg/dL).
Sự phát triển của giảm tiểu cầu trong tuần đầu tiên có liên quan đến sự phát
triển của suy đa cơ quan và kết cục xấu.
Một
số chỉ số tiên lượng đã được đề xuất: điểm "BiLE", dựa trên bilirubin
huyết thanh, lactate huyết thanh, và nguyên nhân; mô hình Động Sớm Suy Gan Cấp
(ALFED), dựa trên nồng độ amoniac động mạch, bilirubin huyết thanh, INR, và
bệnh não gan; và chỉ số Nhóm Nghiên cứu Suy Gan Cấp (ALFSG), dựa trên mức độ
hôn mê, INR, nồng độ bilirubin và phospho huyết thanh, và nồng độ M30, một sản
phẩm phân cắt của caspase cytokeratin-18. Khả năng sống sót không ghép gan khi
nhập viện đã được báo cáo có thể dự đoán bằng một mô hình hồi quy bao gồm mức
độ bệnh não gan, nguyên nhân, sử dụng thuốc vận mạch, và logarit của bilirubin
huyết thanh và INR. Đối với suy gan cấp do acetaminophen, một mô hình bao gồm
mức độ bệnh não gan lớn hơn hoặc bằng 3, điểm hôn mê Glasgow, suy tim mạch,
huyết áp động mạch trung bình, INR, bilirubin huyết thanh, AST huyết thanh,
creatinine huyết thanh, pH động mạch, và lactate động mạch đã cho thấy khả năng
phân biệt tốt.
Nói
chung, ghép gan khẩn cấp được xem xét cho bệnh nhân bệnh não giai đoạn 2 đến
giai đoạn 3 hoặc điểm MELD từ 30,5 trở lên (xem Xơ gan) và liên quan đến tỷ lệ
sống sót 70% sau 5 năm. Đối với ngộ độc nấm, ghép gan nên được xem xét khi
khoảng cách giữa uống và khởi phát tiêu chảy dưới 8 giờ hoặc INR từ 6,0 trở
lên, ngay cả khi không có bệnh não. Suy gan trên nền mạn tính có tiên lượng
xấu, đặc biệt khi kèm rối loạn chức năng thận; một số bệnh nhân có thể ứng cử
viên ghép gan.
Khi nào cần nhập viện
Tất cả bệnh nhân suy gan cấp nên nhập viện.
VIÊM
GAN VIRUS MẠN TÍNH
TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN CƠ BẢN
Được
xác định bởi nhiễm trùng mạn tính (HBV, HCV, HDV) kéo dài hơn 3-6 tháng.
Chẩn
đoán thường bằng xét nghiệm kháng thể và axit nucleic virus trong huyết thanh.
CÂN
NHẮC CHUNG
Viêm
gan mạn tính được định nghĩa là viêm hoại tử mạn tính của gan kéo dài hơn 3-6
tháng, được chứng minh bằng tăng kéo dài nồng độ aminotransferase huyết thanh
hoặc các phát hiện mô học đặc trưng, thường không có triệu chứng. Trong nhiều
trường hợp, chẩn đoán viêm gan mạn tính có thể được thực hiện khi khởi phát.
Nguyên nhân viêm gan mạn tính bao gồm virus (HBV, HCV, và HDV); viêm gan tự
miễn; viêm gan do rượu và viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa
(MASH); một số thuốc, như isoniazid và nitrofurantoin; bệnh Wilson; thiếu hụt
alpha-1-antitrypsin (antiprotease); và hiếm khi, bệnh celiac. Tỷ lệ tử vong do
nhiễm HBV và HCV mạn tính đang tăng ở Hoa Kỳ, và HCV đã vượt HIV như một nguyên
nhân gây tử vong. Viêm gan mạn tính được phân loại dựa trên nguyên nhân; mức độ
viêm cửa, quanh cửa và tiểu thùy (tối thiểu, nhẹ, vừa, hoặc nặng); và giai đoạn
xơ hóa (không, nhẹ, vừa, nặng, xơ gan). Trong trường hợp không có xơ gan tiến
triển, bệnh nhân thường không có triệu chứng hoặc có triệu chứng không đặc hiệu
nhẹ. WHO đã vạch ra một chiến lược đầy tham vọng để loại trừ viêm gan virus mạn
tính vào năm 2030 (bằng cách tiêm vắc xin viêm gan B, đảm bảo an toàn máu và an
toàn tiêm, liều vắc xin viêm gan B đúng giờ cho trẻ sơ sinh, giảm tác hại từ
tiêm chích ma túy, và xét nghiệm và điều trị người đồng nhiễm virus viêm gan và
HIV).
1.
Viêm gan B mạn tính và Viêm gan D mạn tính PHÁT HIỆN LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN
Viêm
gan B mạn tính ảnh hưởng đến 296 triệu người trên toàn thế giới (tổng cộng 2 tỷ
người đã bị nhiễm; các vùng lưu hành bao gồm châu Á và châu Phi cận Sahara) và
khoảng 2,4 triệu (chủ yếu là nam giới) ở Hoa Kỳ. Nó có thể được ghi nhận như
một sự tiếp diễn của viêm gan B cấp hoặc được chẩn đoán do phát hiện lặp lại
HBsAg trong huyết thanh, thường với nồng độ aminotransferase tăng.
Năm
giai đoạn nhiễm HBV mạn tính được công nhận: giai đoạn dung nạp miễn dịch, giai
đoạn hoạt động miễn dịch (hoặc thanh thải miễn dịch), trạng thái mang HBsAg
không hoạt động, giai đoạn viêm gan B mạn tính tái hoạt động, và giai đoạn
HBsAg âm tính. Trong giai đoạn dung nạp miễn dịch (nhiễm HBV mạn tính HBeAg
dương tính), HBeAg và HBV DNA có trong huyết thanh và chỉ ra sự sao chép virus
hoạt động, và nồng độ aminotransferase huyết thanh bình thường, với ít viêm
hoại tử trong gan. Giai đoạn này phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có hệ thống
miễn dịch chưa trưởng thành không tạo đáp ứng miễn dịch với HBV.
Những
người trong giai đoạn dung nạp miễn dịch và những người nhiễm HBV muộn hơn có
thể bước vào giai đoạn hoạt động miễn dịch (viêm gan B mạn tính HBeAg dương
tính), trong đó nồng độ aminotransferase và HBV DNA tăng và viêm hoại tử có
trong gan, với nguy cơ tiến triển xơ gan (với tỷ lệ 2−5,5% mỗi năm) và HCC (với
tỷ lệ hơn 2% mỗi năm ở người xơ gan); IgM anti-HBc nồng độ thấp có trong huyết
thanh ở khoảng 70%.
Bệnh
nhân bước vào trạng thái mang HBsAg không hoạt động (nhiễm HBV mạn tính HBeAg
âm tính) khi cải thiện sinh hóa sau thanh thải miễn dịch. Sự cải thiện này
trùng với sự biến mất of HBeAg và giảm nồng độ HBV DNA (dưới 105 bản sao/mL,
hoặc dưới 20.000 IU/mL) trong huyết thanh, xuất hiện anti-HBe, và tích hợp bộ
gen HBV vào bộ gen vật chủ trong tế bào gan bị nhiễm. Bệnh nhân ở giai đoạn này
có nguy cơ thấp bị xơ gan (nếu chưa phát triển) và HCC, và những người có nồng
độ aminotransferase huyết thanh bình thường kéo dài hiếm khi có bệnh gan có ý
nghĩa mô học, đặc biệt nếu nồng độ HBsAg thấp.
Giai
đoạn viêm gan B mạn tính tái hoạt động (viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính) có
thể do nhiễm một đột biến tiền lõi của HBV hoặc từ đột biến tự phát của vùng
tiền lõi hoặc promoter lõi của bộ gen HBV trong quá trình viêm gan mạn tính do
HBV týp hoang dại gây ra. Viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính chiếm dưới 10% ca
viêm gan B mạn tính ở Hoa Kỳ, lên đến 50% ở Đông Nam Á, và lên đến 90% ở các
nước Địa Trung Hải, phản ánh một phần sự khác biệt về tần suất kiểu gen HBV.
Trong viêm gan B mạn tính tái hoạt động, có sự tăng nồng độ HBV DNA huyết thanh
và có thể tiến triển xơ gan (với tỷ lệ 8−10% mỗi năm), đặc biệt khi có thêm các
biến thể gây bệnh trong gen lõi của HBV. Các yếu tố nguy cơ tái hoạt động bao
gồm giới tính nam và kiểu gen HBV C cũng như suy giảm miễn dịch. Điều trị nhiễm
HCV bằng thuốc kháng virus tác động trực tiếp đã được báo cáo dẫn đến các
trường hợp tái hoạt động HBV.
Ở
bệnh nhân viêm gan B mạn tính HBeAg dương tính hoặc âm tính, nguy cơ xơ gan và
HCC tương quan với nồng độ HBV DNA huyết thanh. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm
tuổi cao, giới tính nam, sử dụng rượu, hút thuốc lá, kiểu gen HBV C, và đồng
nhiễm HCV hoặc HDV. Đồng nhiễm HIV cũng liên quan đến tăng tần suất xơ gan khi
số lượng CD4 thấp.
Chỉ
1% bệnh nhân được điều trị và không điều trị mỗi năm đạt giai đoạn HBsAg âm
tính, trong đó anti-HBe có thể vẫn phát hiện được, nồng độ ALT huyết thanh bình
thường, và HBV DNA không phát hiện được trong huyết thanh nhưng vẫn tồn tại
trong gan. Giai đoạn này còn được gọi là "chữa khỏi chức năng." Trong
một số trường hợp, anti-HBs xuất hiện trong huyết thanh.
Diễn giải: 1. Giai đoạn dung nạp miễn dịch (Immune-tolerant phase)
Đặc điểm chính:
HBeAg dương tính
HBV DNA rất cao (thường > 10⁷–10⁸ IU/mL)
ALT bình thường
Viêm hoại tử gan rất ít hoặc không có
Đối tượng thường gặp: Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị nhiễm HBV từ mẹ (nhiễm từ nhỏ).
Ý nghĩa lâm sàng: Hệ miễn dịch chưa “nhận diện” được virus nên không tấn công tế bào gan. Nguy cơ xơ gan và ung thư gan thấp ở giai đoạn này. Không cần điều trị kháng virus.
2. Giai đoạn hoạt động miễn dịch (Immune-active / Immune clearance phase)
Đặc điểm chính:
HBeAg dương tính
HBV DNA cao
ALT tăng (thường dao động)
Có viêm hoại tử gan rõ trên mô học
Ý nghĩa lâm sàng: Hệ miễn dịch bắt đầu tấn công virus → gây viêm gan. Đây là giai đoạn có nguy cơ cao tiến triển thành xơ gan và ung thư gan (HCC).
Điều trị: Có thể cân nhắc điều trị kháng virus nếu ALT tăng kéo dài và có xơ hóa.
3. Trạng thái mang HBsAg không hoạt động (Inactive carrier phase)
Đặc điểm chính:
HBeAg âm tính + anti-HBe dương tính
HBV DNA thấp (< 2.000 IU/mL) hoặc không phát hiện được
ALT bình thường kéo dài
Viêm gan rất ít hoặc không có
Ý nghĩa lâm sàng: Đây là giai đoạn “ổn định” nhất. Nguy cơ xơ gan và HCC thấp nếu ALT luôn bình thường và HBV DNA thấp.
Điều trị: Thường không cần điều trị, chỉ theo dõi định kỳ.
4. Giai đoạn viêm gan B mạn tính tái hoạt động (HBeAg-negative chronic hepatitis / Reactivation phase)
Đặc điểm chính:
HBeAg âm tính
HBV DNA tăng (thường > 2.000 IU/mL)
ALT tăng dao động
Viêm gan hoạt động trên mô học
Nguyên nhân: Thường do đột biến vùng tiền lõi (precore) hoặc promoter lõi của virus.
Ý nghĩa lâm sàng: Nguy cơ tiến triển xơ gan nhanh (8–10%/năm) và HCC cao hơn giai đoạn 3. Đây là giai đoạn cần điều trị kháng virus tích cực.
5. Giai đoạn HBsAg âm tính (HBsAg loss / Functional cure phase)
Đặc điểm chính:
Mất HBsAg (có hoặc không có anti-HBs)
HBV DNA không phát hiện được trong huyết thanh
ALT bình thường
Virus vẫn có thể tồn tại ở mức rất thấp trong gan
Ý nghĩa lâm sàng: Đây là giai đoạn được coi là “chữa khỏi chức năng” (functional cure). Nguy cơ xơ gan và HCC giảm mạnh, nhưng vẫn cần theo dõi lâu dài vì HCC vẫn có thể xảy ra (đặc biệt nếu đã có xơ gan trước đó).
Tỷ lệ đạt được: Rất thấp (khoảng 1%/năm).
Nhiễm viêm gan D cấp tính kết hợp với nhiễm HBV mạn tính có thể dẫn đến viêm gan mạn tính nặng, có thể tiến triển nhanh đến xơ gan và có thể tử vong. Bệnh nhân viêm gan D và B mạn tính lâu dài thường có xơ gan không hoạt động và có nguy cơ mất bù và HCC. Chẩn đoán được xác nhận bằng phát hiện anti-HDV hoặc HDAg (hoặc HDV RNA) trong huyết thanh.
ĐIỀU
TRỊ
Bệnh nhân có sao chép virus hoạt động (HBeAg và HBV DNA [105 bản sao/mL trở lên, hoặc 20.000 IU/mL trở lên] trong huyết thanh và nồng độ aminotransferase tăng) có thể được điều trị bằng nucleoside hoặc nucleotide tương tự hoặc bằng pegylated interferon. Các nucleoside và nucleotide tương tự được ưu tiên vì dung nạp tốt hơn và có thể uống.
(Đây là nhóm thuốc kháng virus hoạt động bằng cách bắt chước nucleoside hoặc nucleotide tự nhiên của cơ thể. Khi vào trong tế bào, chúng sẽ được virus sử dụng nhầm vào quá trình sao chép DNA của virus, làm virus không sao chép được nữa.)
Diễn giải:
Tiêu chuẩn để xem xét điều trị
Để được cân nhắc điều trị theo tiêu chuẩn cổ điển, bệnh nhân cần đáp ứng đầy đủ 3 tiêu chí sau:
| Tiêu chí | Yêu cầu | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| HBeAg | Dương tính | Virus đang ở giai đoạn sao chép mạnh (thường là virus hoang dại) |
| HBV DNA | ≥ 10⁵ bản sao/mL (hoặc ≥ 20.000 IU/mL) | Mức độ sao chép virus cao |
| ALT (Aminotransferase) | Tăng | Có bằng chứng viêm gan hoạt động |
Nếu đủ 3 tiêu chí trên → Bệnh nhân được coi là có sao chép virus hoạt động và có viêm gan, nên cân nhắc điều trị.
Hai nhóm thuốc điều trị chính
Có 2 lựa chọn điều trị chính cho nhóm bệnh nhân này:
| Loại thuốc | Nucleoside/Nucleotide analogs (Thuốc uống) | Pegylated Interferon (Peg-IFN) |
|---|---|---|
| Ví dụ | Entecavir, Tenofovir (TDF hoặc TAF) | Peginterferon alfa-2a |
| Cách dùng | Uống hàng ngày | Tiêm dưới da mỗi tuần |
| Thời gian điều trị | Thường dài hạn (có thể suốt đời) | Hữu hạn (thường 48 tuần) |
| Mục tiêu chính | Ức chế mạnh HBV DNA | Kích thích hệ miễn dịch, đạt chuyển đổi huyết thanh |
| Tỷ lệ chuyển đổi HBeAg → anti-HBe | Khoảng 20–30% sau nhiều năm | Cao hơn (khoảng 30–40% sau 1 năm) |
| Ưu điểm | Dung nạp tốt, hiệu quả cao, ít tác dụng phụ | Thời gian điều trị có hạn, có thể đạt "chữa khỏi chức năng" |
| Nhược điểm | Thường phải dùng lâu dài | Nhiều tác dụng phụ, không dùng được ở nhiều đối tượng |
Mục tiêu điều trị
Khi điều trị nhóm bệnh nhân này, các mục tiêu chính là:
- Ức chế HBV DNA xuống mức không phát hiện được.
- Bình thường hóa ALT.
- Chuyển đổi huyết thanh HBeAg (mất HBeAg + xuất hiện anti-HBe) — đây là mục tiêu quan trọng ở bệnh nhân HBeAg dương tính.
- Mất HBsAg (Functional cure) — mục tiêu lý tưởng nhưng khó đạt được.
Đối với bệnh nhân HBeAg âm tính, ngưỡng điều trị là nồng độ HBV DNA huyết thanh 104 bản sao/mL, hoặc 2000 IU/mL. Ngày càng nhiều, điều trị được xem xét nếu nồng độ HBV DNA phát hiện được hoặc nồng độ ALT huyết thanh tăng ở bệnh nhân trên 30 tuổi, đặc biệt nếu sinh thiết gan hoặc đánh giá không xâm lấn xơ hóa gan cho thấy xơ hóa giai đoạn 2 (vừa) trở lên hoặc nếu có tiền sử gia đình HCC.
Mục tiêu điều trị là giảm và duy trì nồng độ HBV DNA huyết thanh đến mức thấp nhất có thể, từ đó bình thường hóa nồng độ ALT và cải thiện mô học. Một mục tiêu bổ sung ở bệnh nhân HBeAg dương tính là chuyển đổi huyết thanh thành anti-HBe, và một số đáp ứng cuối cùng sẽ thanh thải HBsAg. Mặc dù các nucleoside và nucleotide tương tự thường được ngừng 6-12 tháng sau khi chuyển đổi huyết thanh từ HBeAg sang anti-HBe, một số bệnh nhân (đặc biệt là bệnh nhân châu Á) tái chuyển đổi sang HBeAg sau khi ngừng, có sự tăng nồng độ HBV DNA và tái phát hoạt động viêm gan, và cần điều trị lâu dài, cũng cần thiết khi không có chuyển đổi huyết thanh và ở bệnh nhân xơ gan (ít nhất cho đến khi HBsAg được thanh thải và có thể vô thời hạn). Ngày càng nhiều, điều trị lâu dài được ưu tiên cho tất cả bệnh nhân HBeAg dương tính. Bệnh nhân viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính cũng thường cần điều trị lâu dài vì tái phát thường gặp khi ngừng thuốc; nồng độ HBsAg huyết thanh thấp (dưới 100IU/mL ở người châu Á và dưới 1000IU/mL ở người da trắng) tại thời điểm ngừng điều trị xác định bệnh nhân HBeAg âm tính có nguy cơ tái phát thấp và ở đó HBsAg có khả năng thanh thải hơn nếu ngừng nucleoside hoặc nucleotide tương tự sau 3 năm so với tiếp tục vô thời hạn. Mục tiêu điều trị là "chữa khỏi chức năng," đặc trưng bởi mất HBsAg, có hoặc không có xuất hiện anti-HBs, và HBV DNA không phát hiện được trong huyết thanh, liên quan đến cải thiện kết cục bệnh nhân.
Diễn giải:
Bệnh nhân HBeAg dương tính
1. Mục tiêu điều trị ở bệnh nhân HBeAg dương tính
- Mục tiêu chính: Ức chế HBV DNA, bình thường hóa ALT, và giảm viêm gan.
- Mục tiêu bổ sung quan trọng: Chuyển đổi huyết thanh HBeAg (HBeAg mất + xuất hiện anti-HBe). Đây là dấu hiệu cho thấy hệ miễn dịch đã kiểm soát được virus tốt hơn.
- Một số bệnh nhân sau khi chuyển đổi HBeAg có thể tiếp tục mất HBsAg (đạt được “chữa khỏi chức năng”).
2. Thời gian điều trị ở bệnh nhân HBeAg dương tính
- Nguyên tắc cũ: Nếu bệnh nhân đạt được chuyển đổi huyết thanh HBeAg → có thể ngừng thuốc sau 6–12 tháng.
- Thực tế hiện nay:
- Nhiều bệnh nhân (đặc biệt là người châu Á) sau khi ngừng thuốc sẽ tái chuyển đổi HBeAg (HBeAg xuất hiện trở lại), HBV DNA tăng vọt và viêm gan tái phát.
- Do đó, việc ngừng thuốc sau chuyển đổi huyết thanh không an toàn ở nhiều trường hợp.
- Kết luận hiện tại:
- Ngày càng nhiều chuyên gia ưu tiên điều trị lâu dài (thậm chí suốt đời) cho tất cả bệnh nhân HBeAg dương tính.
- Đặc biệt bắt buộc điều trị lâu dài nếu:
- Không đạt được chuyển đổi huyết thanh HBeAg.
- Bệnh nhân đã có xơ gan.
- Đã điều trị đủ lâu (thường ≥ 3 năm).
- Nồng độ HBsAg huyết thanh thấp tại thời điểm cân nhắc ngừng:
- Người châu Á: HBsAg < 100 IU/mL
- Người da trắng: HBsAg < 1000 IU/mL
- Nếu HBsAg thấp như trên → nguy cơ tái phát thấp hơn và có khả năng mất HBsAg sau khi ngừng.
Các
nucleoside và nucleotide tương tự có sẵn – entecavir, tenofovir, lamivudine,
adefovir, và telbivudine – khác nhau về hiệu quả và tỷ lệ kháng thuốc; tuy
nhiên, ở bệnh nhân HBeAg dương tính, tất cả đều đạt tỷ lệ chuyển đổi huyết
thanh từ HBeAg sang anti-HBe khoảng 20% sau 1 năm, với tỷ lệ cao hơn sau điều
trị kéo dài hơn. Các thuốc uống hàng đầu ưu tiên là entecavir và tenofovir.
Entecavir hiếm khi liên quan đến kháng thuốc trừ khi bệnh nhân đã kháng
lamivudine. Liều hàng ngày là 0,5mg uống; entecavir không nên dùng cho bệnh
nhân đã kháng lamivudine trước đó. Ức chế HBV DNA trong huyết thanh xảy ra ở
gần như tất cả bệnh nhân được điều trị, và cải thiện mô học quan sát thấy ở 70%
bệnh nhân. Entecavir đã được báo cáo gây nhiễm toan lactic khi sử dụng ở bệnh
nhân xơ gan mất bù. Tenofovir disoproxil fumarate, 300mg uống hàng ngày, có
hiệu quả tương đương và đã được sử dụng như một thuốc hàng đầu hoặc khi kháng
thuốc với nucleoside tương tự phát triển. Giống như entecavir, tenofovir có tỷ
lệ kháng thuốc thấp khi sử dụng điều trị ban đầu. Sử dụng tenofovir disoproxil
fumarate lâu dài có thể dẫn đến tăng nồng độ creatinine huyết thanh và giảm
nồng độ phosphat huyết thanh (hội chứng giống Fanconi) có thể hồi phục khi
ngừng thuốc. Tenofovir alafenamide, 25mg uống hàng ngày, là một công thức mới
hơn của tenofovir liên quan đến tỷ lệ độc tính thận và xương thấp hơn so với
tenofovir disoproxil fumarate và ngày càng được ưu tiên hơn tenofovir
disoproxil fumarate.
Các
nucleoside và nucleotide tương tự được dung nạp tốt ngay cả ở bệnh nhân xơ gan
mất bù (mà ngưỡng điều trị có thể là nồng độ HBV DNA dưới 104 bản sao/mL và
điều trị nên tiếp tục vô thời hạn) và có thể có hiệu quả ở bệnh nhân viêm gan B
tiến triển nhanh ("viêm gan ứ mật xơ hóa") sau ghép tạng.
Các nucleoside tương tự cũng được khuyến cáo để ngăn ngừa tái hoạt động ở cả người mang HBV không hoạt động và những người chỉ dương tính với anti-HBc trước khi bắt đầu điều trị ức chế miễn dịch (đặc biệt là các thuốc làm cạn kiệt tế bào B, như rituximab, và kháng thể kháng TNF hoặc liệu pháp corticosteroid liều trung bình hoặc cao) hoặc hóa trị ung thư.
Giải thích:
- Một số thuốc ức chế miễn dịch mạnh hoặc hóa trị ung thư có thể làm virus HBV tái hoạt động mạnh trở lại, thậm chí gây viêm gan cấp nặng hoặc suy gan.
- Những đối tượng dễ bị tái hoạt động bao gồm:
- Người đang mang HBsAg nhưng ở trạng thái không hoạt động (inactive carrier).
- Người chỉ dương tính anti-HBc (anti-HBc dương tính, HBsAg âm tính) — đây là tình trạng gọi là nhiễm HBV ẩn (occult HBV infection).
- Các thuốc có nguy cơ cao gây tái hoạt động HBV:
- Rituximab (và các thuốc làm cạn kiệt tế bào B khác)
- Kháng thể kháng TNF (như Infliximab, Adalimumab…)
- Corticosteroid liều trung bình đến cao kéo dài
- Hóa trị ung thư
Khuyến cáo: Trước khi bắt đầu các thuốc trên, nên cho dự phòng bằng nucleoside/nucleotide analogs (thường là Entecavir hoặc Tenofovir) để ngăn ngừa virus bùng phát.
Ở bệnh nhân nhiễm cả HBV và HIV, liệu pháp
kháng retrovirus, bao gồm hai thuốc hoạt động chống lại cả hai virus (ví dụ,
tenofovir cộng lamivudine hoặc emtricitabine), đã được khuyến cáo khi điều trị
nhiễm HIV được chỉ định. Tenofovir, telbivudine, và lamivudine đã được chứng
minh an toàn ở phụ nữ mang thai. Điều trị kháng virus đã được khuyến cáo, bắt
đầu từ tam cá nguyệt thứ ba, khi nồng độ HBV DNA huyết thanh của mẹ là
200.000IU/mL trở lên để giảm nồng độ tại thời điểm sinh.
Peginterferon
alfa-2a vẫn là một lựa chọn thay thế cho các thuốc uống trong các trường hợp
chọn lọc. Liều 180mcg tiêm dưới da mỗi tuần một lần trong 48 tuần dẫn đến bình
thường hóa kéo dài nồng độ aminotransferase, biến mất HBeAg và HBV DNA khỏi
huyết thanh, và xuất hiện anti-HBe ở tới 40% bệnh nhân được điều trị và cải
thiện sống sót. Đáp ứng có khả năng nhất ở bệnh nhân có nồng độ HBV DNA ban đầu
thấp và nồng độ aminotransferase cao và có khả năng hơn ở người nhiễm kiểu gen
HBV A so với các kiểu gen khác (đặc biệt kiểu gen D). Hơn nữa, many người đáp
ứng hoàn toàn cuối cùng thanh thải HBsAg và phát triển anti-HBs trong huyết
thanh. Tái phát ít gặp ở người đáp ứng hoàn toàn chuyển đổi huyết thanh từ
HBeAg sang anti-HBe. Peginterferon có thể được xem xét để tránh điều trị lâu
dài bằng thuốc uống, như ở phụ nữ trẻ có thể muốn có thai trong tương lai. Bệnh
nhân viêm gan B mạn tính HBeAg âm tính có tỷ lệ đáp ứng 60% sau 48 tuần điều
trị bằng peginterferon, nhưng đáp ứng có thể không bền vững khi ngừng peginterferon.
Đáp ứng với peginterferon kém ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV.
Đoạn văn này nói về Peginterferon alfa-2a — một loại thuốc điều trị viêm gan B theo cơ chế kích thích miễn dịch, khác hoàn toàn với nhóm thuốc uống (nucleoside/nucleotide analogs).
1. Peginterferon là gì và vai trò hiện nay?
- Peginterferon alfa-2a là một dạng interferon đã được pegyl hóa, giúp thuốc tồn tại lâu hơn trong cơ thể.
- Đây là thuốc tiêm, không phải thuốc uống.
- Hiện nay, nó không phải là lựa chọn đầu tay, mà chỉ là lựa chọn thay thế trong một số trường hợp chọn lọc.
Lý do: Hiệu quả không cao bằng thuốc uống ở nhiều bệnh nhân, và có nhiều tác dụng phụ hơn.
2. Phác đồ điều trị
- Liều lượng: 180 mcg tiêm dưới da mỗi tuần 1 lần
- Thời gian: Thường dùng trong 48 tuần (khoảng 1 năm)
- Đây là phác đồ có thời gian hữu hạn (finite duration), khác với thuốc uống thường phải dùng dài hạn.
3. Hiệu quả điều trị
Peginterferon có thể mang lại các kết quả sau:
- Bình thường hóa ALT kéo dài
- Mất HBeAg và HBV DNA trong huyết thanh
- Chuyển đổi huyết thanh HBeAg → anti-HBe (đạt được ở tới 40% bệnh nhân)
- Một số bệnh nhân đáp ứng tốt cuối cùng có thể mất HBsAg và xuất hiện anti-HBs (đạt được “chữa khỏi chức năng”)
- Cải thiện tỷ lệ sống sót lâu dài
Điểm quan trọng: Tỷ lệ đáp ứng không cao bằng thuốc uống, nhưng nếu đáp ứng tốt thì tái phát thấp, đặc biệt sau khi đã chuyển đổi HBeAg thành anti-HBe.
4. Ai dễ đáp ứng với Peginterferon hơn?
Đáp ứng với Peginterferon không đồng đều, phụ thuộc vào một số yếu tố:
| Yếu tố | Đáp ứng tốt hơn khi | Ghi chú |
|---|---|---|
| HBV DNA ban đầu | Thấp | Virus ít → dễ kiểm soát hơn |
| ALT ban đầu | Cao | Phản ánh hệ miễn dịch đang hoạt động mạnh |
| Kiểu gen HBV | Kiểu gen A tốt nhất Kiểu gen D xấu nhất | Kiểu gen A dễ đạt chuyển đổi huyết thanh nhất |
| Đồng nhiễm HIV | Kém | Đáp ứng rất thấp |
5. Ưu điểm của Peginterferon so với thuốc uống
- Thời gian điều trị có hạn (chỉ 48 tuần) → phù hợp với những người không muốn dùng thuốc suốt đời.
- Một số bệnh nhân đạt được mất HBsAg (functional cure) sau điều trị.
- Tái phát thấp nếu đã đạt chuyển đổi huyết thanh HBeAg.
- Phù hợp cho phụ nữ trẻ muốn có thai trong tương lai (tránh phải dùng thuốc uống dài hạn).
6. Nhược điểm và hạn chế
- Tác dụng phụ nhiều (cúm, mệt mỏi, rối loạn tâm thần, giảm bạch cầu, tiểu cầu…).
- Hiệu quả thấp hơn thuốc uống ở hầu hết các bệnh nhân.
- Ở bệnh nhân HBeAg âm tính: Tỷ lệ đáp ứng khoảng 60%, nhưng đáp ứng dễ không bền vững sau khi ngừng thuốc.
- Đáp ứng rất kém ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV.
- Không phù hợp với người có xơ gan mất bù, bệnh tự miễn, hoặc các bệnh lý tâm thần nặng.
Trong
viêm gan D mạn tính, peginterferon alfa-2b (1,5mg/kg/tuần trong 48 tuần) có thể
dẫn đến bình thường hóa nồng độ aminotransferase huyết thanh, cải thiện mô học,
và loại bỏ HDV RNA khỏi huyết thanh ở 20−50% bệnh nhân, nhưng tái phát có thể
xảy ra, và dung nạp kém. Các nucleoside và nucleotide tương tự thường không có
hiệu quả trong điều trị viêm gan D mạn tính.
TIÊN
LƯỢNG
Các
di chứng của viêm gan mạn tính thứ phát do viêm gan B bao gồm xơ gan, suy gan,
và HCC. Tỷ lệ tử vong 5 năm là 0−2% ở người không xơ gan, 14−20% ở người xơ gan
bù, và 70−86% sau mất bù. Nguy cơ xơ gan và HCC tương quan với nồng độ HBV DNA
huyết thanh, và mục tiêu điều trị là ức chế nồng độ HBV DNA dưới 300 bản sao/mL
(60 IU/mL). Ở bệnh nhân xơ gan, ngay cả nồng độ HBV DNA thấp trong huyết thanh
cũng làm tăng nguy cơ HCC so với nồng độ không phát hiện được. Kiểu gen HBV C
liên quan đến nguy cơ xơ gan và HCC cao hơn các kiểu gen khác. Điều trị kháng
virus cải thiện tiên lượng ở người đáp ứng, ngăn ngừa (hoặc dẫn đến thoái
triển) xơ gan, và giảm tần suất biến chứng liên quan đến gan (mặc dù nguy cơ
HCC không trở nên thấp như ở người mang HBV không hoạt động và HCC thậm chí có
thể xảy ra sau khi thanh thải HBsAg). Một điểm số nguy cơ (PAGE-B) dựa trên
tuổi, giới tính, và số lượng tiểu cầu của bệnh nhân đã được báo cáo để dự đoán
nguy cơ HCC sau 5 năm ở bệnh nhân da trắng dùng entecavir hoặc tenofovir.
Bình luận thêm: Thời gian nhân đôi của virus vgB sẽ từ 2-4 ngày, điều này có nghĩa là ngừng thuốc càng lâu thì số bản sao sẽ nhân lên theo cấp số nhân cứ mỗi 2-4 ngày.
2.
Viêm gan C mạn tính
Biểu
hiện lâm sàng & Chẩn đoán
Viêm gan C mạn tính phát
triển ở tới 85% bệnh nhân bị viêm gan C cấp tính. Bệnh không thể phân biệt về
mặt lâm sàng với viêm gan mạn tính do các nguyên nhân khác. Trên toàn thế giới,
57 triệu người nhiễm HCV, với 1,8% dân số Hoa Kỳ bị nhiễm. Tỷ lệ lưu hành cao
nhất ở Hoa Kỳ (khoảng 4%) là ở những người sinh từ năm 1945 đến 1964. Trong
khoảng 40% trường hợp, nồng độ aminotransferase huyết thanh bình thường một
cách dai dẳng. Chẩn đoán được xác nhận bằng phát hiện kháng thể kháng HCV bằng
EIA. Trong một số ít trường hợp nghi ngờ viêm gan C mạn tính nhưng EIA âm tính,
HCV RNA được phát hiện bằng xét nghiệm PCR. Tiến triển thành xơ gan xảy ra ở
20% bệnh nhân sau 20 năm, với nguy cơ tăng ở nam giới, những người uống hơn 50
g rượu mỗi ngày và những người nhiễm HCV sau 40 tuổi. Tốc độ tiến triển xơ hóa
tăng nhanh sau tuổi 50. Người da đen có tỷ lệ viêm gan C mạn tính cao hơn nhưng
tỷ lệ tiến triển xơ hóa và đáp ứng với điều trị thấp hơn người da trắng. Những
người bị suy giảm miễn dịch bao gồm bệnh nhân giảm gamma globulin máu hoặc
nhiễm HIV với số lượng CD4 thấp hoặc những người đang dùng thuốc ức chế miễn
dịch — dường như tiến triển đến xơ gan nhanh hơn so với người có hệ miễn dịch
bình thường bị viêm gan C mạn tính. Hút thuốc lá và cần sa cũng như gan nhiễm
mỡ cũng có vẻ thúc đẩy tiến triển xơ hóa, trong khi uống cà phê có vẻ làm chậm
tiến triển. Những người bị viêm gan C mạn tính có nồng độ aminotransferase
huyết thanh bình thường dai dẳng thường bị viêm gan mạn tính nhẹ với tiến triển
chậm hoặc không tiến triển thành xơ gan; tuy nhiên, xơ gan hiện diện ở 10% số
bệnh nhân này. Xét nghiệm xơ hóa huyết thanh (ví dụ: FibroSure) hoặc đo độ đàn
hồi có thể được sử dụng để xác định không có xơ hóa hoặc có xơ gan.
Điều trị
Sự ra đời của các thuốc
kháng virus tác động trực tiếp đã nhanh chóng mở rộng kho vũ khí điều trị chống
lại HCV (Bảng 18-6). Với sự sẵn có của các phác đồ toàn thân, tiêu chí đáp ứng
virus bền vững được rút ngắn từ 24 tuần xuống còn 12 tuần sau khi hoàn thành
điều trị. Có thể điều trị cho tất cả những người nhiễm HCV với mục tiêu đạt
được khỏi bệnh.
Một số loại thuốc kháng
virus tác động trực tiếp đã được phát triển (Bảng 18-6 và 18-7). Thuốc ức chế
protease HCV ("...previr") nói chung có hiệu lực kháng virus cao
nhưng khác nhau về sự phát triển đề kháng (mặc dù các đột biến thay thế liên quan
đến đề kháng trong bộ gen HCV có xu hướng không tồn tại sau khi ngừng điều trị
bằng các thuốc này). Ví dụ bao gồm glecaprevir và voxilaprevir. Thuốc trong
nhóm này chống chỉ định ở bệnh nhân xơ gan mất bù.
Thuốc ức chế NS5A
("...asvir"), như ledipasvir và velpatasvir, có đặc điểm là hiệu lực
kháng virus cao ở liều picomole. Hiệu quả trên các kiểu gen khác nhau của các
thuốc này rất khác nhau.
Thuốc ức chế polymerase
HCV ("...buvir") được phân loại là chất tương tự nucleoside hoặc
nucleotide và thuốc ức chế polymerase không phải nucleoside. Các chất tương tự
nucleos(t)ide có hoạt tính chống lại tất cả các kiểu gen HCV và có hàng rào kháng
thuốc cao. Sofosbuvir là thuốc duy nhất hiện có trong nhóm này. Thuốc ức chế
polymerase không phải nucleoside, như dasabuvir, là nhóm thuốc yếu nhất chống
lại HCV do hàng rào kháng thuốc thấp. Thuốc trong nhóm này nói chung có hoạt
tính mạnh hơn đối với kiểu gen HCV 1b so với kiểu gen HCV 1a. Chúng được phát
triển để chỉ sử dụng kết hợp với các thuốc kháng virus tác động trực tiếp khác,
chủ yếu là thuốc ức chế protease và thuốc ức chế NS5A.
Vào cuối năm 2019, Hiệp
hội Nghiên cứu Bệnh gan Hoa Kỳ và Hiệp hội Bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ đã khuyến
nghị hai phác đồ kết hợp ưu tiên và hiệu quả cao: glecaprevir cộng pibrentasvir
trong 8 tuần cho kiểu gen 1-6 và sofosbuvir cộng velpatasvir trong 12 tuần cho
kiểu gen 1, 2, 4, 5 hoặc 6; sau đó, sofosbuvir cộng velpatasvir cũng được
khuyến nghị cho kiểu gen 3 (xem Bảng 18-7). Sự kết hợp glecaprevir và
pibrentasvir được chấp thuận trong 8 tuần cho bệnh nhân chưa điều trị, không xơ
gan hoặc xơ gan còn bù và bệnh nhân đã điều trị không xơ gan, bao gồm cả những
người đồng nhiễm HIV, và trong 12 tuần cho bệnh nhân đã điều trị, xơ gan còn
bù. Sofosbuvir và velpatasvir cũng nên được dùng trong 12 tuần ở bệnh nhân đã
điều trị, xơ gan còn bù. Có thể cần điều chỉnh thêm ở bệnh nhân kiểu gen 3 đã
điều trị, xơ gan còn bù hoặc mất bù. Sự kết hợp glecaprevir và pibrentasvir
cũng là một lựa chọn cho tất cả các kiểu gen cho bệnh nhân CKD, bao gồm cả
những người đang chạy thận nhân tạo. Sự kết hợp sofosbuvir, velpatasvir và voxilaprevir
trong 12 tuần có thể được sử dụng như liệu pháp "cứu vãn" ở bệnh nhân
không đáp ứng hoặc tái phát sau điều trị bằng phác đồ có chứa NS5A. Có thể xem
xét các đợt điều trị dài hơn hoặc thêm ribavirin ở những người nhiễm kiểu gen
3, xơ gan hoặc đã điều trị trước đó bằng sofosbuvir cộng velpatasvir. Giá trị
của việc xét nghiệm các đột biến thay thế liên quan đến đề kháng trước khi điều
trị lại chưa chắc chắn. Sử dụng bất kỳ phác đồ nào có chứa thuốc ức chế
protease đều chống chỉ định ở bệnh nhân xơ gan mất bù.
Nhiễm HCV dễ chữa khỏi
bằng thuốc uống tác động trực tiếp, với tỷ lệ đáp ứng virus bền vững dự kiến
trên 90%. Thất bại điều trị hiếm gặp và có khả năng xảy ra nhất ở bệnh nhân
nhiễm HCV kiểu gen 1a hoặc 3, đặc biệt khi kèm xơ gan. Tuy nhiên, tỷ lệ điều trị
tổng thể của bệnh nhân viêm gan C mạn tính vẫn dưới 20% và thấp nhất ở người
gốc Latinh và những người có bảo hiểm Medicaid hoặc bảo hiểm chăm sóc người
nghèo. Chi phí (tuy đang giảm) của các thuốc kháng virus tác động trực tiếp,
cùng với việc thiếu bảo hiểm chi trả, thường là rào cản đối với việc sử dụng
chúng. Các yếu tố bổ sung cần xem xét khi lựa chọn phác đồ là sự hiện diện của
xơ gan hoặc rối loạn chức năng thận, điều trị trước đó, tương tác thuốc tiềm ẩn
(có rất nhiều) và khả năng bệnh nhân có thể cần ghép gan trong tương lai. Một
số thuốc cảm ứng cytochrome P450/P-glycoprotein, như carbamazepine, phenytoin
và phenobarbital, chống chỉ định sử dụng tất cả các phác đồ kháng virus tác
động trực tiếp HCV.
Liệu pháp kháng virus đã
được chứng minh là có lợi trong điều trị cryoglobulinemia liên quan đến viêm
gan C mạn tính; đợt cấp của cryoglobulinemia trước tiên có thể cần điều trị
bằng rituximab, cyclophosphamide cộng methylprednisolone hoặc thay huyết tương.
Như đã nói ở trên, bệnh nhân đồng nhiễm HCV và HIV đã được chứng minh là đáp
ứng tốt với điều trị nhiễm HCV. Hơn nữa, ở những người đồng nhiễm HCV và HIV,
tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh gan dài hạn tăng lên khi tỷ lệ tử vong liên
quan đến nhiễm HIV giảm xuống nhờ liệu pháp kháng virus. Các trường hợp tái
hoạt động nhiễm HBV cũng như herpesvirus không thường xuyên đã xảy ra với thuốc
kháng virus tác động trực tiếp điều trị nhiễm HCV và tất cả các ứng viên nên
được sàng lọc trước nhiễm HBV, với việc bắt đầu điều trị dự phòng kháng virus ở
những người có HBsAg dương tính trước khi bắt đầu điều trị nhiễm HCV.
**Bảng 18-6: Các thuốc kháng virus tác động trực tiếp (DAA) điều trị viêm gan C**
*(Đã dịch sang tiếng Việt và trình bày lại rõ ràng)*
### **1. Ức chế Protease NS3/4A (NS3/4A Protease Inhibitors)**
| Thuốc | Kiểu gen | Liều dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Glecaprevir | 1–6 | 300 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với pibrentasvir (có hoặc không ribavirin) |
| Grazoprevir | 1, 4 | 100 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với elbasvir |
| Paritaprevir | 1, 4 | 150 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với ombitasvir + dasabuvir + ritonavir (boosted). Dùng ribavirin cho kiểu gen 1a và xơ gan kiểu gen 1b |
| Simeprevir | 1, 4 | 150 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với sofosbuvir |
| Voxilaprevir | 1–6 | 100 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với sofosbuvir + velpatasvir |
### **2. Ức chế NS5A (NS5A Inhibitors)**
| Thuốc | Kiểu gen | Liều dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Daclatasvir | 1–6 | 60 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với sofosbuvir (có hoặc không ribavirin). Liều có thể điều chỉnh khi dùng với một số thuốc khác |
| Elbasvir | 1, 4 | 50 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với grazoprevir |
| Ledipasvir | 1, 4, 6 | 90 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với sofosbuvir |
| Ombitasvir | 1, 4 | 25 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với paritaprevir + ritonavir + dasabuvir |
| Pibrentasvir | 1–6 | 120 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với glecaprevir (có hoặc không ribavirin) |
| Velpatasvir | 1–6 | 100 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với sofosbuvir. Có thể dùng với voxilaprevir |
### **3. Ức chế Polymerase NS5B – Loại Nucleos(t)ide**
| Thuốc | Kiểu gen | Liều dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Sofosbuvir | 1–6 | 400 mg uống 1 lần/ngày | Dùng kết hợp với ribavirin hoặc các thuốc khác tùy kiểu gen. Có thể dùng chung với velpatasvir, ledipasvir, daclatasvir, simeprevir... |
### **4. Ức chế Polymerase NS5B – Loại không phải Nucleos(t)ide**
| Thuốc | Kiểu gen | Liều dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Dasabuvir | 1, 4 | 250 mg uống 2 lần/ngày | Dùng kết hợp với paritaprevir + ombitasvir + ritonavir (có hoặc không ribavirin) |
### Ghi chú quan trọng khi sử dụng bảng:
- **Glecaprevir + Pibrentasvir** và **Sofosbuvir + Velpatasvir** là hai phác đồ được khuyến cáo rộng rãi nhất hiện nay (pangenotypic – điều trị được nhiều kiểu gen).
- Các thuốc ức chế Protease (NS3/4A) **chống chỉ định** ở bệnh nhân **xơ gan mất bù**.
- Việc lựa chọn phác đồ phụ thuộc vào: kiểu gen, mức độ xơ gan, điều trị trước đó, và chức năng thận.
- Hầu hết các phác đồ hiện nay có **tỷ lệ khỏi bệnh > 95%** nếu dùng đúng chỉ định.
| Phác đồ | Chỉ định | Thời gian điều trị (Bệnh nhân không xơ gan, chưa từng điều trị) |
|---|---|---|
| Glecaprevir + Pibrentasvir | Kiểu gen 1–6 và kiểu gen 1 đã từng điều trị DAA | 8 tuần |
| Sofosbuvir + Velpatasvir | Kiểu gen 1–6 và kiểu gen 1b, 2 đã từng điều trị DAA | 12 tuần |
| Sofosbuvir + Velpatasvir + Voxilaprevir | Kiểu gen 1–6 đã từng điều trị DAA | Không cố định (thường 12 tuần) |
Tiên lượng
Viêm gan C mạn tính là
một bệnh diễn tiến âm thầm, thường không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, có thể
dẫn đến xơ gan và HCC sau nhiều thập kỷ. Tỷ lệ tử vong chung ở bệnh nhân viêm
gan C liên quan đến truyền máu có thể không khác so với dân số đối chứng cùng
độ tuổi. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong hoặc ghép gan tăng lên 5% mỗi năm một khi xơ
gan phát triển. Một điểm số nguy cơ kết hợp tuổi, giới tính, số lượng tiểu cầu
và tỷ lệ AST/ALT đã được đề xuất. Liệu pháp kháng virus có tác dụng có lợi đối
với tỷ lệ tử vong, biến cố tim mạch, đái tháo đường type 2 và chất lượng cuộc
sống, có hiệu quả về chi phí, có vẻ làm chậm và thậm chí đảo ngược xơ hóa, đồng
thời làm giảm (nhưng không loại bỏ) nguy cơ xơ gan mất bù và HCC ở những người
đáp ứng có xơ hóa tiến triển. Ngay cả những bệnh nhân đạt được đáp ứng virus
bền vững vẫn có nguy cơ tử vong cao hơn so với dân số chung. Nguy cơ tử vong do
ung thư ngoài gan đã được mô tả ở nhóm này, cũng như ở những bệnh nhân đạt được
ức chế nhiễm HBV. Mặc dù tỷ lệ tử vong do xơ gan và HCC do viêm gan C vẫn còn
đáng kể, nhưng nhu cầu ghép gan do viêm gan C mạn tính đã giảm và tỷ lệ sống
sót sau ghép đã được cải thiện. Nguy cơ tử vong do nghiện ma túy cao hơn nguy
cơ do bệnh gan ở bệnh nhân viêm gan C mạn tính. Nhiễm HCV dường như có liên
quan đến tăng tỷ lệ tử vong do tim mạch, đặc biệt ở những người bị đái tháo
đường và tăng huyết áp. Sử dụng statin đã được báo cáo là có liên quan đến cải
thiện đáp ứng virus với liệu pháp kháng virus và giảm tiến triển xơ hóa gan
cũng như tần suất HCC.
Khi
nào cần giới thiệu
Để sinh thiết gan. Để
điều trị kháng virus.
Khi
nào cần nhập viện
Đối với các biến chứng
của xơ gan mất bù.
VIÊM
GAN TỰ MIỄN
NHỮNG
ĐIỂM CHÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN
- Thường gặp ở phụ nữ trẻ đến trung
niên.
- Viêm gan mạn tính với globulin
huyết thanh cao và hình ảnh mô học gan đặc trưng.
- ANA hoặc kháng thể cơ trơn, hoặc
cả hai, dương tính trong hầu hết các trường hợp ở Hoa Kỳ.
- Đáp ứng với corticosteroid.
Đại
cương
Viêm gan tự miễn thường
gặp ở phụ nữ trẻ nhưng có thể xảy ra ở cả hai giới ở mọi lứa tuổi. Tỷ lệ mắc
mới, đang gia tăng, và tỷ lệ hiện mắc ước tính lần lượt là 2-4 và 26-31 trên
100.000 dân. Nguy cơ viêm gan tự miễn tăng ở người thân cấp một của bệnh nhân
và ở những người uống ít cà phê. Nguyên nhân vẫn chưa rõ.
Biểu
hiện lâm sàng
A. Triệu chứng và Dấu
hiệu
Khởi phát thường âm
thầm. Khoảng 25% trường hợp biểu hiện viêm gan cấp tính nặng (và đôi khi là suy
gan cấp) và một số trường hợp xảy ra sau một bệnh do virus (như viêm gan A,
nhiễm Epstein-Barr hoặc sởi) hoặc tiếp xúc với thuốc hoặc độc tố (như nitrofurantoin,
minocycline, hydralazine, methyladopa, infliximab hoặc thuốc ức chế điểm kiểm
soát miễn dịch). Các đợt cấp có thể xảy ra sau sinh. Vô kinh có thể là một biểu
hiện ban đầu và tần suất trầm cảm có vẻ tăng lên. 34% bệnh nhân, đặc biệt là
bệnh nhân lớn tuổi, không có triệu chứng. Khám có thể thấy một phụ nữ trẻ trông
khỏe mạnh với nhiều giãn mạch hình nhện, vân da, mụn trứng cá, rậm lông và gan
to. Các biểu hiện ngoài gan bao gồm viêm khớp, hội chứng Sjogren, viêm tuyến
giáp, viêm thận, viêm loét đại tràng và thiếu máu tan máu Coombs dương tính.
Bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân lớn tuổi, bị viêm gan tự miễn có nguy cơ xơ
gan tăng, do đó làm tăng nguy cơ HCC (với tỷ lệ khoảng 1% mỗi năm).
B. Xét nghiệm
Nồng độ aminotransferase huyết thanh có thể lớn hơn 1000 U/L và bilirubin toàn phần thường tăng. Viêm gan tự miễn đã được phân loại thành type I hoặc type II, mặc dù các đặc điểm lâm sàng và đáp ứng với điều trị tương tự nhau giữa hai type.
Trong viêm gan tự miễn type I (cổ điển), ANA hoặc kháng thể cơ trơn (một trong hai hoặc cả hai) thường được phát hiện trong huyết thanh. Nồng độ gamma globulin huyết thanh thường tăng (lên tới 5-6 g/dL [0,05-0,06 g/L]). Trong viêm gan tự miễn cấp tính nặng, ANA âm tính và IgG huyết thanh bình thường, mỗi biểu hiện ở tới 39% trường hợp. Kháng thể kháng kháng nguyên gan hòa tan (anti-SLA) đặc trưng cho một biến thể của type I, được đánh dấu bằng bệnh nặng, tỷ lệ tái phát cao sau điều trị và không có các kháng thể thông thường (ANA và kháng thể cơ trơn).
Type II, thường gặp hơn ở trẻ em gái dưới 14 tuổi ở châu Âu, được đặc trưng bởi
kháng thể kháng vi thể gan-thận type 1 (anti-LKM1) lưu hành mà không có kháng
thể cơ trơn hoặc ANA. Trong một số trường hợp, kháng thể kháng tế bào gan type
1 được phát hiện. Viêm gan tự miễn type II có thể gặp ở bệnh nhân hội chứng đa
tuyến tự miễn type 1. Viêm đường mật nguyên phát (PBC) hoặc viêm đường mật xơ
cứng nguyên phát ("hội chứng chồng lấn") đồng thời đã được công nhận
ở 7-13% và 6-11% bệnh nhân viêm gan tự miễn. Sinh thiết gan được chỉ định để
giúp thiết lập chẩn đoán (viêm giao diện là dấu hiệu đặc trưng), đánh giá mức
độ nghiêm trọng của bệnh và giai đoạn xơ hóa, cũng như xác định nhu cầu điều
trị. Các đặc điểm mô học của MASLD được tìm thấy ở 17-30% bệnh nhân viêm gan tự
miễn. Xơ gan hiện diện ở 28-33% người lớn lúc chẩn đoán.
Các tiêu chuẩn chẩn đoán
đơn giản hóa dựa trên phát hiện tự kháng thể (1 điểm cho hiệu giá >1:40 hoặc
2 điểm cho hiệu giá >1:80), nồng độ IgG tăng (1 điểm cho nồng độ IgG ≥ giới
hạn trên bình thường hoặc 2 điểm cho nồng độ ≥ 1,1 lần giới hạn trên bình
thường), đặc điểm mô học đặc trưng (1 hoặc 2 điểm tùy thuộc mức độ điển hình
của đặc điểm) và loại trừ viêm gan virus (2 điểm) có thể hữu ích cho chẩn đoán;
tổng điểm 6 cho thấy có khả năng và điểm 7 cho thấy chắc chắn viêm gan tự miễn
với độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy trung bình.
Điều
trị
Prednisone với hoặc
không có azathioprine (thường bắt đầu 2 tuần sau prednisone) giúp cải thiện
triệu chứng; giảm nồng độ bilirubin huyết thanh, aminotransferase và
gamma-globulin; và giảm viêm gan. Bệnh nhân có triệu chứng với nồng độ
aminotransferase tăng gấp mười lần (hoặc gấp năm lần nếu globulin huyết thanh
tăng ít nhất gấp hai lần) là ứng viên tối ưu cho điều trị và bệnh nhân không có
triệu chứng với mức enzyme tăng nhẹ có thể được xem xét điều trị tùy thuộc vào
hoàn cảnh lâm sàng và mức độ nghiêm trọng về mô học; tuy nhiên, bệnh nhân không
có triệu chứng thường không có triệu chứng, có viêm gan nhẹ hoặc xơ gan không
hoạt động trên mẫu sinh thiết gan và có tiên lượng lâu dài tốt nếu không điều
trị.
Prednisone được dùng
liều ban đầu 30 mg uống mỗi ngày cùng với azathioprine 50 mg uống mỗi ngày,
thường được dung nạp tốt và cho phép sử dụng liều corticosteroid thấp hơn so
với phác đồ bắt đầu chỉ với prednisone 60 mg uống mỗi ngày. Giảm nồng độ AST
huyết thanh 80% sau 8 tuần dự đoán bình thường hóa nồng độ AST sau 1 năm.
Corticosteroid đường tĩnh mạch hoặc prednisone 60 mg uống mỗi ngày được khuyến
nghị cho bệnh nhân bị viêm gan tự miễn cấp tính nặng; azathioprine thường được
bắt đầu 2 tuần sau đó. Ở bệnh nhân viêm gan tự miễn không xơ gan, budesonide 3
mg uống hai hoặc ba lần mỗi ngày có thể có hiệu quả như liệu pháp đầu tay và có
thể ít tác dụng phụ hơn prednisone. Bệnh nhân nên được xét nghiệm kiểu gen của
thiopurine methyltransferase trước khi điều trị bằng azathioprine để phát hiện
những người có nguy cơ độc tính cao. Việc điều chỉnh liều azathioprine dựa trên
nồng độ chất chuyển hóa, như trong IBD, đã được đề xuất. Công thức máu được
theo dõi hàng tuần trong 2 tháng đầu điều trị và hàng tháng sau đó do nguy cơ
nhỏ ức chế tủy xương. Liều prednisone được giảm từ 30 mg/ngày sau 1 tuần xuống
20 mg/ngày và sau 2 hoặc 3 tuần xuống 15 mg/ngày. Điều trị được hướng dẫn theo
đáp ứng và cuối cùng, nên đạt liều duy trì 10 mg/ngày. Trong khi cải thiện
triệu chứng thường nhanh chóng, cải thiện sinh hóa diễn ra chậm hơn, với sự
bình thường hóa nồng độ aminotransferase huyết thanh sau trung bình 22 tháng.
Giải quyết viêm về mặt mô học chậm hơn lui bệnh sinh hóa từ 3-6 tháng và nên
cân nhắc sinh thiết gan lặp lại ở những người đã lui bệnh sinh hóa ít nhất 2
năm. Thất bại trong việc nồng độ aminotransferase trở về bình thường luôn dự
đoán không có sự giải quyết về mô học.
Diễn giải:
1. Phác đồ điều trị ban đầu (thường dùng nhất)
Prednisone 30 mg/ngày + Azathioprine 50 mg/ngày
- Đây là cách điều trị phổ biến và được khuyến nghị hiện nay.
- Ưu điểm:
- Bệnh nhân dung nạp tốt hơn.
- Dùng liều corticosteroid (Prednisone) thấp hơn so với dùng Prednisone 60 mg đơn thuần.
- Azathioprine giúp giảm liều Prednisone, từ đó giảm tác dụng phụ của corticosteroid (tăng cân, loãng xương, tiểu đường, tăng huyết áp…).
2. Theo dõi đáp ứng điều trị
- Nếu sau 8 tuần nồng độ AST giảm 80% → rất có khả năng AST sẽ trở về bình thường sau 1 năm.
- Đây là dấu hiệu dự đoán tốt cho sự lui bệnh.
3. Điều trị trường hợp viêm gan tự miễn nặng cấp tính
- Dùng Corticosteroid đường tĩnh mạch hoặc Prednisone 60 mg/ngày liều cao ngay từ đầu.
- Azathioprine thường bắt đầu sau 2 tuần (khi bệnh nhân ổn định hơn, giảm nguy cơ tác dụng phụ trên gan).
4. Lựa chọn thay thế cho bệnh nhân chưa xơ gan
- Có thể dùng Budesonide (3 mg × 2–3 lần/ngày) thay vì Prednisone.
- Ưu điểm: Hiệu quả tương đương nhưng ít tác dụng phụ toàn thân hơn (vì Budesonide bị gan chuyển hóa mạnh, ít ảnh hưởng toàn cơ thể).
5. Lưu ý quan trọng khi dùng Azathioprine
- Xét nghiệm TPMT (thiopurine methyltransferase) trước khi dùng:
- Một số người thiếu enzyme này → dễ bị độc tính nặng (ức chế tủy xương).
- Theo dõi công thức máu:
- Hàng tuần trong 2 tháng đầu.
- Sau đó hàng tháng.
- Lý do: Azathioprine có nguy cơ gây giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu (ức chế tủy xương).
6. Cách giảm liều Prednisone (giảm dần)
- Tuần 1: 30 mg/ngày
- Sau 1 tuần: giảm xuống 20 mg/ngày
- Sau 2–3 tuần: giảm xuống 15 mg/ngày
- Cuối cùng đạt liều duy trì 10 mg/ngày
Mục tiêu là dùng liều thấp nhất có hiệu quả để tránh tác dụng phụ lâu dài.
7. Thời gian lui bệnh và theo dõi
- Triệu chứng (mệt mỏi, vàng da…) cải thiện nhanh.
- Men gan (AST/ALT) trở về bình thường chậm hơn, trung bình khoảng 22 tháng.
- Giải quyết viêm trên mô học (sinh thiết gan) chậm hơn lui bệnh sinh hóa từ 3–6 tháng.
- Khuyến cáo: Khi men gan đã bình thường ít nhất 2 năm, nên cân nhắc sinh thiết gan lại để kiểm tra xem viêm đã thực sự hết chưa.
- Quan trọng: Nếu men gan không bao giờ trở về bình thường → gần như chắc chắn không có sự hồi phục về mô học
Tỷ lệ đáp ứng với điều
trị bằng prednisone và azathioprine là 80% với lui bệnh ở 65% sau 3 năm. Bệnh
nhân lớn tuổi có nhiều khả năng đáp ứng hơn bệnh nhân trẻ tuổi và những người
bị tăng bilirubin máu hoặc điểm MELD cao (12 trở lên, xem Xơ gan). Xơ hóa có
thể đảo ngược khi điều trị và hiếm khi tiến triển sau khi đã lui bệnh về sinh
hóa và mô học rõ ràng. Khi đã đạt lui bệnh hoàn toàn, có thể ngừng điều trị,
nhưng tỷ lệ tái phát sau đó là 90% sau 3 năm. Các đợt tái phát có thể được điều
trị lại theo cách tương tự như đợt đầu, với cùng tỷ lệ lui bệnh. Sau khi điều
trị thành công đợt tái phát, bệnh nhân có thể tiếp tục dùng azathioprine (tối
đa 2 mg/kg) hoặc liều prednisone thấp nhất có hoặc không có azathioprine (50
mg/ngày) cần thiết để duy trì nồng độ aminotransferase gần bình thường nhất có
thể; có thể cân nhắc một nỗ lực ngừng điều trị khác ở những bệnh nhân duy trì
lui bệnh lâu dài (ví dụ, 4 năm hoặc lâu hơn).
Trong thai kỳ, các đợt
cấp có thể được điều trị bằng prednisone và azathioprine duy trì không cần phải
ngừng.
Những người không đáp
ứng với corticosteroid và azathioprine (thất bại trong việc giảm nồng độ
aminotransferase huyết thanh 50% trong vòng 4 tuần) có thể được xem xét dùng
thử cyclosporine, tacrolimus, sirolimus, everolimus, methotrexate, rituximab
hoặc infliximab. Mycophenolate mofetil, 500 mg tăng lên 1 g hai lần mỗi ngày,
là một lựa chọn thay thế hiệu quả cho azathioprine ở những bệnh nhân không dung
nạp được nhưng kém hiệu quả hơn ở những người không đáp ứng với azathioprine và
là một chất gây quái thai đã biết phải ngừng trước khi thụ thai. Nó có thể có
hiệu quả ở tới 60% bệnh nhân kháng hoặc không dung nạp với liệu pháp tiêu
chuẩn. Mật độ xương nên được theo dõi — đặc biệt ở bệnh nhân đang điều trị duy
trì bằng corticosteroid — và thực hiện các biện pháp để phòng ngừa hoặc điều
trị loãng xương (xem Chương 28). Có thể cần ghép gan cho những trường hợp thất
bại điều trị và bệnh nhân có biểu hiện cấp tính nặng (ngay lập tức ở những
người bị suy gan cấp và sau 2 tuần ở những người bị viêm gan tự miễn cấp tính
nặng và không cải thiện với corticosteroid). Khi giảm ức chế miễn dịch, bệnh đã
được ghi nhận tái phát ở tới 70% gan ghép sau 5 năm. Sirolimus có thể có hiệu
quả trong những trường hợp như vậy.
Tiên
lượng
Tỷ lệ tử vong lâu dài
chung của bệnh nhân viêm gan tự miễn và xơ gan có vẻ cao gấp đôi so với dân số
chung mặc dù đáp ứng với liệu pháp ức chế miễn dịch. Các yếu tố dự đoán nhu cầu
ghép gan hoặc tử vong liên quan đến gan bao gồm (1) tuổi ≤20 hoặc ≥60 khi biểu
hiện, (2) nồng độ albumin huyết thanh thấp khi chẩn đoán, (3) xơ gan khi chẩn
đoán, (4) sự hiện diện của anti-SLA và (5) bình thường hóa không hoàn toàn nồng
độ AST huyết thanh sau 6 tháng điều trị. Bệnh có vẻ diễn tiến tích cực hơn ở
bệnh nhân da đen so với da trắng.
Khi
nào cần giới thiệu
Để sinh thiết gan. Để
điều trị ức chế miễn dịch.
Khi
nào cần nhập viện
Bệnh não gan. INR >
1,6.
BỆNH
GAN LIÊN QUAN ĐẾN RƯỢU
NHỮNG
ĐIỂM CHÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN
- Lượng rượu uống mạn tính thường
vượt quá 80 g/ngày ở nam và 30-40 g/ngày ở nữ trong viêm gan hoặc xơ gan
liên quan đến rượu.
- Gan nhiễm mỡ thường không có
triệu chứng.
- Sốt, đau hạ sườn phải, gan to đau
và vàng da đặc trưng cho viêm gan do rượu, nhưng bệnh nhân có thể không có
triệu chứng.
- AST thường tăng nhưng hiếm khi
> 300 U/L (6 mckat/L); AST > ALT, thường gấp hai lần trở lên.
- Viêm gan do rượu thường có thể
hồi phục, nhưng nó là tiền chất phổ biến nhất của xơ gan ở Hoa Kỳ.
Đại
cương
Uống quá nhiều rượu có
thể dẫn đến gan nhiễm mỡ, viêm gan và xơ gan. Các công cụ đã được xác nhận, như
Bài kiểm tra Rối loạn Sử dụng Rượu (AUDIT), có thể được sử dụng để xác định
những người lạm dụng và phụ thuộc rượu (xem Bảng 1-7). Viêm gan do rượu được
đặc trưng bởi viêm cấp tính hoặc mạn tính và hoại tử nhu mô gan do rượu gây ra,
và thường là bệnh có thể hồi phục, nhưng nó là tiền chất phổ biến nhất của xơ
gan ở Hoa Kỳ. Nó liên quan đến số ca nhập viện và tử vong gấp 4 đến 5 lần so
với viêm gan C. Tỷ lệ tử vong do bệnh gan liên quan đến rượu đã gia tăng kể từ
năm 1999.
Tần suất xơ gan liên quan đến rượu ước tính là 10-15% ở những người uống hơn 50 g rượu (4 oz rượu whisky 100 proof, 15 oz rượu vang, hoặc bốn lon bia 12 oz) mỗi ngày trong hơn 10 năm. Nếu chỉ uống rượu nhiều mà không có viêm gan virus (B, C) và không bị béo phì, thì nguy cơ bị xơ gan chỉ khoảng 5%. Các yếu tố di truyền, như dị hợp tử alen Z của gen thiếu hụt alpha-1-antitrypsin và kháng insulin cũng có thể giải thích sự khác biệt về tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng của bệnh gan. Phụ nữ dường như nhạy cảm hơn nam giới, một phần do nồng độ alcohol dehydrogenase niêm mạc dạ dày thấp hơn, nhưng nam giới trẻ uống quá nhiều có nguy cơ mắc bệnh gan cao hơn sau này khi họ không còn uống nhiều nữa.
Biểu
hiện lâm sàng
A. Triệu chứng và Dấu
hiệu
Biểu hiện lâm sàng của
bệnh gan liên quan đến rượu có thể thay đổi từ gan to không có triệu chứng đến
bệnh cấp tính gây tử vong nhanh chóng (suy gan cấp trên nền mạn tính) hoặc xơ
gan giai đoạn cuối. Khoảng thời gian gần đây uống nhiều rượu, than phiền về
chán ăn và buồn nôn, và biểu hiện gan to và vàng da gợi ý mạnh mẽ chẩn đoán.
Đau bụng và đau, lách
to, cổ trướng, sốt và bệnh não có thể xuất hiện. Nhiễm trùng, bao gồm cả
aspergillosis xâm lấn, thường gặp ở bệnh nhân viêm gan do rượu nặng.
B. Xét nghiệm
Ở bệnh nhân gan nhiễm
mỡ, tăng nhẹ men gan có thể là biểu hiện bất thường xét nghiệm duy nhất. Thiếu máu
(thường là hồng cầu to) có thể xuất hiện. Tăng bạch cầu với chuyển trái thường
gặp ở bệnh nhân viêm gan do rượu nặng. Giảm bạch cầu đôi khi thấy và hết sau
khi ngừng uống rượu. Khoảng 10% bệnh nhân giảm tiểu cầu liên quan đến tác dụng
độc trực tiếp của rượu lên quá trình sản xuất megakaryocyte hoặc lách to. AST
thường tăng nhưng hiếm khi trên 400 U/L (6 mckat/L). AST lớn hơn ALT, thường
gấp hai lần trở lên. Phosphatase kiềm huyết thanh thường tăng, nhưng hiếm khi
vượt quá ba lần giá trị bình thường. Bilirubin huyết thanh tăng ở 60-90% bệnh
nhân viêm gan do rượu. Nồng độ bilirubin huyết thanh > 10 mg/dL (171 mmol/L)
và thời gian prothrombin kéo dài rõ rệt (6 giây hoặc hơn so với đối chứng) cho
thấy viêm gan do rượu nặng với tỷ lệ tử vong trên 30%. Albumin huyết thanh giảm
và nồng độ gamma-globulin (đặc biệt là IgA) tăng ở 50-75% cá nhân, ngay cả khi
không có xơ gan. Tăng bão hòa transferrin, dự trữ sắt gan và thiếu máu nguyên
hồng cầu nhân sắt thường gặp ở nhiều bệnh nhân nghiện rượu. Thiếu axit folic có
thể đi kèm.
C. Chẩn đoán hình ảnh
Các nghiên cứu hình ảnh
có thể phát hiện gan nhiễm mỡ mức độ trung bình đến nặng một cách đáng tin cậy
nhưng không phát hiện viêm hoặc xơ hóa. Siêu âm giúp loại trừ tắc nghẽn đường
mật và xác định cổ trướng dưới lâm sàng. CT với thuốc cản quang tĩnh mạch hoặc
MRI có thể được chỉ định trong các trường hợp chọn lọc để đánh giá bệnh nhân
tìm mạch máu bàng hệ, các tổn thương chiếm chỗ của gan hoặc bệnh lý kèm theo
của tụy.
D. Sinh thiết gan
Sinh thiết gan, nếu thực
hiện, cho thấy mỡ đại thể và ở bệnh nhân viêm gan do rượu, thâm nhiễm bạch cầu
đa nhân trung tính với hoại tử gan, thể Mallory (hoặc Mallory-Denk) (hyalin do
rượu) và xơ hóa quanh tĩnh mạch và quanh xoang. Xơ gan dạng tiểu thùy cũng có
thể xuất hiện. Các phát hiện tương tự như viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối
loạn chức năng chuyển hóa cơ thể (MASLD).
Chẩn
đoán phân biệt
Viêm gan do rượu có thể
bắt chước chặt chẽ viêm túi mật và sỏi mật cũng như ngộ độc thuốc. Các nguyên
nhân khác gây viêm gan hoặc bệnh gan mạn tính có thể được loại trừ bằng xét
nghiệm huyết thanh hoặc sinh hóa, nghiên cứu hình ảnh hoặc sinh thiết gan. Một
công thức dựa trên tỷ lệ AST/ALT, BMI, thể tích trung bình hồng cầu và giới
tính đã được báo cáo để phân biệt đáng tin cậy bệnh gan liên quan đến rượu với
MASLD.
Điều
trị
A. Các biện pháp chung
Ngưng uống rượu là điều
cần thiết. Bệnh nhân nhập viện nên được theo dõi cai rượu; Thang đánh giá Cai
rượu Lâm sàng - Bản sửa đổi (CIWA-Ar) thường được sử dụng trong thực tế (xem
Hình 27-3). Gan nhiễm mỡ có thể hồi phục nhanh chóng khi ngưng rượu. Cần nỗ lực
tối đa để cung cấp đủ lượng carbohydrate và calo cho bệnh nhân chán ăn nhằm
giảm dị hóa protein nội sinh, thúc đẩy tân tạo glucose và ngăn ngừa hạ đường
huyết. Hỗ trợ dinh dưỡng (30-40 [và không ít hơn 21,5] kcal/kg với 1,0-1,5 g/kg
protein) cải thiện bệnh gan, nhưng không nhất thiết cải thiện sống sót, ở bệnh
nhân suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, dinh dưỡng ruột tích cực khó thực hiện. Việc bổ
sung vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là axit folic, thiamine và kẽm, được chỉ
định, đặc biệt khi phát hiện thiếu hụt; dùng glucose làm tăng nhu cầu thiamine
và có thể gây hội chứng Wernicke-Korsakoff nếu không dùng đồng thời thiamine.
Nên tránh các thuốc độc thận ở bệnh nhân viêm gan do rượu nặng.
B. Các biện pháp dược lý
Methylprednisolone 32
mg/ngày uống, hoặc tương đương, trong 1 tháng, có thể giảm tỷ lệ tử vong ngắn
hạn (1 tháng, nhưng không phải 6 tháng) ở bệnh nhân viêm gan do rượu và bệnh
não gan, với chỉ số phân biệt Maddrey đã hiệu chỉnh (được định nghĩa là thời gian
prothrombin của bệnh nhân trừ thời gian prothrombin đối chứng nhân 4,6 cộng với
bilirubin toàn phần tính bằng mg/dL) ≥ 32 hoặc điểm MELD ≥ 20, đặc biệt những
người có điểm MELD từ 25 đến 39 (xem Xơ gan). Chảy máu tiêu hóa kèm theo hoặc
nhiễm trùng có thể không loại trừ điều trị bằng corticosteroid nếu có chỉ định
khác, nhưng điều trị bằng prednisolone làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và nấm
nghiêm trọng trong và sau khi hoàn thành điều trị. Sự kết hợp corticosteroid và
N-acetylcysteine đã được báo cáo là cải thiện thêm tỷ lệ sống sót ở 1 tháng,
nhưng không phải 6 tháng, và giảm nguy cơ hội chứng gan thận và nhiễm trùng; sự
kết hợp có thể vượt trội hơn so với corticosteroid đơn thuần, nhưng cần thêm dữ
liệu.
Tiên
lượng
A. Ngắn hạn
Tỷ lệ tử vong chung cho
viêm gan do rượu là 34% (20% trong vòng 1 tháng) nếu không điều trị bằng
corticosteroid. Những người có thời gian prothrombin kéo dài không cho phép
sinh thiết gan có tỷ lệ tử vong 42% sau 1 năm. Các yếu tố tiên lượng xấu khác
là tuổi cao, bilirubin huyết thanh > 10 mg/dL (171 mmol/L), bệnh não gan,
rối loạn đông máu, tăng ure huyết, tăng bạch cầu, nhiễm trùng huyết, viêm phổi
và các nhiễm trùng khác, hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (có liên quan đến suy
đa cơ quan), thiếu đáp ứng với điều trị corticosteroid, nồng độ transferrin
huyết thanh thấp và có thể thiếu mỡ trên mẫu sinh thiết gan và đảo chiều dòng
máu tĩnh mạch cửa trên siêu âm Doppler. Chảy máu tiêu hóa kèm theo dường như
không làm xấu thêm khả năng sống sót. Thất bại trong việc nồng độ bilirubin
huyết thanh giảm sau 7 (và có thể 4) ngày điều trị bằng corticosteroid dự đoán
không đáp ứng và sống sót lâu dài kém, cũng như mô hình Lille (bao gồm tuổi,
creatinine huyết thanh, albumin huyết thanh, thời gian prothrombin [hoặc INR],
bilirubin huyết thanh lúc nhập viện và bilirubin huyết thanh vào ngày 7). Điểm
MELD được sử dụng cho xơ gan và điểm viêm gan do rượu Glasgow (dựa trên tuổi,
số lượng WBC, BUN, tỷ lệ thời gian prothrombin và nồng độ bilirubin) cũng tương
quan với tỷ lệ tử vong do viêm gan do rượu và có độ đặc hiệu cao hơn so với
điểm số phân biệt và điểm Lille. Một hệ thống điểm số dựa trên tuổi, bilirubin
huyết thanh, INR và creatinine huyết thanh (ABIC) đã được đề xuất, và ít nhất
một nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự phát triển của AKI là yếu tố dự đoán chính xác
nhất về tỷ lệ tử vong trong 90 ngày. Một hệ thống điểm số khác dựa trên bệnh
não gan, hội chứng đáp ứng viêm toàn thân và điểm MELD cũng đã được báo cáo để
dự đoán AKI và tử vong. Một hệ thống điểm số mới dự đoán tỷ lệ tử vong trong 30
ngày, Chỉ số Tử vong cho Viêm gan do Rượu (MIAAH), bao gồm tuổi, BUN, albumin,
bilirubin và INR. Sự kết hợp của điểm MELD và mô hình Lille đã được báo cáo là
yếu tố dự đoán tốt nhất về tỷ lệ tử vong ngắn hạn trong các hệ thống điểm số. Các
đặc điểm mô học liên quan đến tử vong trong 90 ngày bao gồm mức độ xơ hóa và
thâm nhiễm bạch cầu trung tính, sự hiện diện của ty thể khổng lồ và ứ mật.
B. Dài hạn
Tỷ lệ tử vong trong 3
năm của những người hồi phục sau viêm gan do rượu cấp tính cao gấp 10 lần so
với nhóm chứng cùng độ tuổi; tỷ lệ tử vong trong 5 năm lên tới 85%. Bệnh nặng
về mô học liên quan đến tỷ lệ tử vong quá mức tiếp tục sau 3 năm, trong khi tỷ
lệ tử vong không tăng sau cùng khoảng thời gian ở những người có mẫu sinh thiết
gan chỉ cho thấy viêm gan do rượu nhẹ. Các biến chứng của tăng áp lực tĩnh mạch
cửa (cổ trướng, chảy máu giãn tĩnh mạch, hội chứng gan thận), rối loạn đông máu
và vàng da nặng sau khi hồi phục viêm gan do rượu cấp tính cũng cho thấy tiên
lượng lâu dài xấu.
Yếu tố tiên lượng lâu
dài quan trọng nhất trong bệnh gan liên quan đến rượu là tiếp tục uống rượu quá
mức. Tỷ lệ sống sót tổng thể trong 10 năm ở tất cả những người bị bệnh gan liên
quan đến rượu là 88% ở những người cai rượu so với 73% ở những người tái
nghiện. Không có mức độ uống rượu an toàn nào ở những người bị bệnh gan liên
quan đến rượu hoặc các bệnh gan khác. Ở nhiều quốc gia, ethyl glucuronide (một
chất chuyển hóa của ethanol) trong nước tiểu hoặc phosphatidyl ethanol huyết
thanh được sử dụng như một dấu hiệu trực tiếp của lượng rượu tiêu thụ. Nguy cơ
xơ gan do rượu lớn hơn ở phụ nữ so với nam giới và liên quan đến béo phì, hút
thuốc lá, viêm gan C mạn tính và nồng độ vitamin D thấp; nguy cơ liên quan
nghịch với uống cà phê. Xơ gan do rượu là một yếu tố nguy cơ gãy xương và HCC;
nguy cơ HCC cao nhất ở người mang biến thể C282Y gây bệnh hemochromatosis hoặc
những người có sắt gan tăng. Giai đoạn cai rượu 6 tháng thường được yêu cầu
trước khi xem xét ghép gan, mặc dù yêu cầu này đã bị đặt câu hỏi và ghép gan
sớm đã được thực hiện ở một số bệnh nhân được chọn bị viêm gan do rượu, với kết
quả tốt. Ứng viên ghép tối ưu có hỗ trợ xã hội đầy đủ, không hút thuốc, không
bị rối loạn tâm thần hoặc nhân cách, tuân thủ điều trị và có các cuộc hẹn
thường xuyên với bác sĩ tâm thần hoặc nhà tâm lý học chuyên về điều trị nghiện.
Bệnh nhân bị bệnh gan liên quan đến rượu có nguy cơ cao hơn bị ung thư sau ghép
so với những người có loại bệnh gan khác do sử dụng rượu và thuốc lá.
Khi
nào cần giới thiệu
Giới thiệu bệnh nhân bị
viêm gan do rượu cần sinh thiết gan để chẩn đoán.
Khi
nào cần nhập viện
Bệnh não gan. INR >
1,6. Bilirubin toàn phần ≥ 10 mg/dL. Không thể duy trì bù nước.
TỔN
THƯƠNG GAN DO THUỐC VÀ ĐỘC TỐ
NHỮNG
ĐIỂM CHÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN
- Tổn thương gan do thuốc có thể
bắt chước viêm gan virus, tắc nghẽn đường mật hoặc các loại bệnh gan khác.
- Các bác sĩ lâm sàng phải hỏi về
việc sử dụng nhiều tác nhân điều trị, bao gồm các sản phẩm "tự
nhiên", thảo dược và thực phẩm chức năng không kê đơn, ở bất kỳ bệnh
nhân nào mắc bệnh gan.
Đại
cương
Nhiều tác nhân điều trị
có thể gây tổn thương gan do thuốc, với vàng da xảy ra trong 30% trường hợp và
lên tới 10% bệnh nhân tử vong hoặc ghép gan trong vòng 6 tháng kể từ khi khởi
phát. Ở bất kỳ bệnh nhân nào mắc bệnh gan, bác sĩ lâm sàng phải hỏi kỹ về việc
sử dụng các loại thuốc có khả năng gây độc cho gan hoặc tiếp xúc với chất độc
gan, bao gồm cả các sản phẩm thảo dược và thực phẩm chức năng không kê đơn. Một
nguồn tài nguyên hữu ích là trang web LiverTox của NIH; một số công cụ đánh giá
quan hệ nhân quả cũng có sẵn. Các loại thuốc thường bị nghi ngờ nhất là kháng
sinh do được sử dụng rộng rãi. Trong một số trường hợp, dùng đồng thời một tác
nhân thứ hai có thể làm tăng độc tính của tác nhân thứ nhất (ví dụ: isoniazid
và rifampin, acetaminophen và rượu, kết hợp các thuốc ức chế điểm kiểm soát
miễn dịch). Chẩn đoán thường phụ thuộc vào việc loại trừ các nguyên nhân khác
gây bệnh gan. Mối quan hệ giữa nồng độ ALT huyết thanh tăng trong các thử
nghiệm lâm sàng trước khi lưu hành và báo cáo sau lưu hành về độc tính gan đã
được xác định. Ngoại trừ các thuốc điều trị lao và nhiễm HIV, axit obeticholic
và có thể cả azithromycin, nguy cơ độc tính gan không tăng ở bệnh nhân xơ gan
từ trước, nhưng độc tính gan có thể nghiêm trọng hơn và kết quả xấu hơn khi nó
xảy ra. Người lớn tuổi có thể có nguy cơ cao hơn đối với độc tính gan từ một số
thuốc nhất định, như amoxicillin-clavulanic acid, isoniazid và nitrofurantoin,
và có nhiều khả năng bị tổn thương dai dẳng và ứ mật hơn là tổn thương tế bào
gan so với người trẻ tuổi. Độc tính thuốc có thể được phân loại dựa trên cơ chế
bệnh sinh hoặc hình ảnh mô học chiếm ưu thế. Giá trị R (R = ALT/ULN chia cho
Alkaline phosphatase/ULN) được sử dụng để phân loại độc tính gan do thuốc theo
cơ chế dị ứng thành loại tế bào gan (giá trị R ≥ 5), hỗn hợp (giá trị R từ 2
đến 5) hoặc ứ mật (giá trị R < 2). Tổn thương gan do thuốc có thể bắt chước
viêm gan virus, tắc nghẽn đường mật, hội chứng ống mật biến mất hoặc các loại
bệnh gan khác (và ngược lại). Sự phát triển của vàng da ở bệnh nhân có nồng độ
aminotransferase huyết thanh ít nhất gấp ba lần giới hạn trên bình thường dự
đoán tỷ lệ tử vong ít nhất 10% ("Định luật Hy"). Một mô hình dựa trên
sự hiện diện của bệnh đi kèm, điểm MELD và albumin huyết thanh đã được báo cáo
để dự đoán tỷ lệ tử vong trong 6 tháng.
Phân
loại theo cơ chế bệnh sinh
A. Độc tính trực tiếp
Độc tính gan do nhóm
thuốc này gây ra được đặc trưng bởi mức độ nghiêm trọng liên quan đến liều,
thời gian tiềm ẩn sau khi tiếp xúc và tính nhạy cảm của từng cá nhân. Một ví dụ
là acetaminophen (độc tính của nó có thể được ước tính bằng biểu đồ Rumack-Matthew),
độc tính này được tăng cường do sự cạn kiệt glutathione do nhịn ăn và sự cạn
kiệt glutathione và cảm ứng P450 2E1 do sử dụng rượu lâu dài; ngược lại, độc
tính acetaminophen có thể giảm bởi statin, fibrate, NSAID và điều trị bằng
acetylcysteine. Các ví dụ khác bao gồm rượu, nấm Amanita phalloides, carbon
tetrachloride, chloroform, kim loại nặng, mercaptopurine, niacin, axit
obeticholic, alkaloid thực vật, phosphorus, pyrazinamide, tetracycline,
tipranavir, axit valproic và vitamin A.
B. Phản ứng dị ứng (cơ
địa)
Ngoại trừ acetaminophen,
hầu hết độc tính gan nghiêm trọng đều mang tính dị ứng cơ địa. Các phản ứng
loại này (1) xảy ra rải rác, (2) không liên quan đến liều trên ngưỡng chung
(thường > 100 mg/ngày) và (3) đôi khi liên quan đến các đặc điểm gợi ý phản
ứng dị ứng, như sốt và tăng bạch cầu ưa eosin (bao gồm hội chứng phát ban do
thuốc với tăng bạch cầu ưa eosin và triệu chứng toàn thân [DRESS]), có thể liên
quan đến kết quả thuận lợi. Bệnh có xu hướng nặng hơn ở người da đen so với
người da trắng. Tổn thương gan do thuốc có thể được quan sát trong quá trình
giám sát sau lưu hành nhưng không phải trong các thử nghiệm tiền lâm sàng. Ví
dụ bao gồm abacavir, abeparvovec, alemtuzumab, atabecostat, amiodarone,
aspirin, carbamazepine, chloramphenicol, dapsone, diclofenac, disulfiram,
duloxetine, ezetimibe, flavocoxid (một "thực phẩm y tế"),
fluoroquinolones, flutamide, halothane, isoniazid, ketoconazole, lamotrigine,
methyldopa, natalizumab, nevirapine, oxacillin, phenytoin, pyrazinamide,
quinidine, remdesivir, rivaroxaban, streptomycin, temozolomide,
thiazolidinediones, tolvaptan và có lẽ tacrine. Statin, giống như tất cả các
thuốc hạ cholesterol, có thể gây tăng aminotransferase huyết thanh nhưng hiếm
khi gây viêm gan thực sự, và thậm chí hiếm hơn gây suy gan cấp, và không còn
được coi là chống chỉ định ở bệnh nhân bệnh gan. Hầu hết các tổn thương gan do
thuốc cấp tính theo cơ chế dị ứng đều có thể hồi phục khi ngừng thuốc gây bệnh.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh mạn tính (kéo dài hơn 1 năm) là tuổi cao, rối loạn
lipid máu và tổn thương cấp tính nặng.
C. Độc tính gan gián
tiếp
Tổn thương gan gián tiếp
đề cập đến tổn thương gan xảy ra khi sử dụng thuốc dẫn đến đợt cấp của bệnh gan
từ trước. Một ví dụ là đợt cấp nhiễm HBV trong bối cảnh điều trị ức chế miễn
dịch cho bệnh tự miễn không phải gan.
Phân
loại theo tổn thương mô học chủ yếu
A. Tổn thương ứ mật
- Không viêm – Ứ mật do thuốc là kết quả
của sự ức chế hoặc thiếu hụt di truyền của các hệ thống vận chuyển gan mật
khác nhau. Các thuốc sau đây gây ứ mật: steroid đồng hóa có chứa nhóm
alkyl hoặc ethinyl ở carbon 17, azathioprine, cetirizine, cyclosporine,
diclofenac, estrogens, febuxostat, indinavir (tăng nguy cơ tăng bilirubin
máu gián tiếp ở bệnh nhân hội chứng Gilbert), mercaptopurine,
methyltestosterone, tamoxifen, temozolomide và ticlopidine.
- Có viêm – Các thuốc sau đây gây
viêm vùng cửa với tổn thương ống mật (viêm đường mật [và trong một số
trường hợp, mất ống mật hoặc tổn thương ống lớn chủ yếu]), thường kèm các
đặc điểm dị ứng như tăng bạch cầu ưa eosin: amoxicillin-clavulanic acid
(một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tổn thương gan do thuốc),
azathioprine, azithromycin, captopril, celecoxib, cephalosporin,
chlorothiazide, chlorpromazine, erythromycin, mercaptopurine, pazopanib,
penicillamine, prochlorperazine, penicillin bán tổng hợp (ví dụ
cloxacillin), sulfadiazine và temozolomide. Lạm dụng ketamine có thể gây
xơ gan ứ mật thứ phát. Độc tính ứ mật và hỗn hợp ứ mật – tế bào gan có
nhiều khả năng dẫn đến bệnh gan mạn tính hơn so với độc tính tế bào gan
đơn thuần.
B. Tổn thương tế bào gan
Các thuốc có thể dẫn đến
viêm gan cấp hoặc mạn tính, về mặt mô học và trong một số trường hợp, về mặt
lâm sàng tương tự như viêm gan tự miễn bao gồm minocycline và nitrofurantoin
phổ biến nhất, cũng như aspirin, isoniazid (nguy cơ tăng ở người mang HBV và
HCV), methyldopa, NSAID, propylthiouracil, terbinafine, thuốc ức chế TNF và
varenicline. Các đặc điểm mô học ủng hộ nguyên nhân do thuốc bao gồm bạch cầu
trung tính ở khoảng cửa và ứ mật tế bào gan. Viêm gan cũng có thể xảy ra ở bệnh
nhân dùng cocaine, diclofenac, dimethyl fumarate, efavirenz, imatinib mesylate,
ipilimumab, nivolumab và các thuốc ức chế điểm kiểm soát khác (cũng có thể gây
viêm đường mật), methylenedioxymethamphetamine (MDMA; ecstasy), nefazodone (có
cảnh báo đóng khung đen về khả năng gây suy gan), nevirapine (giống như các
thuốc ức chế protease HIV khác, nguy cơ tăng ở người mang HBV và HCV),
pioglitazone, ritonavir (tỷ lệ cao hơn các thuốc ức chế protease HIV khác),
rosiglitazone, saquinavir, sulfonamide, telithromycin, tocilizumab, turmeric và
zafirlukast, cũng như nhiều loại thuốc thay thế khác (ví dụ: black cohosh,
chaparral, garcinia cambogia, germander, chiết xuất trà xanh, sản phẩm
Herbalife, Hydroxycut, jin bu huan, kava, saw palmetto, skullcap, axit usnic và
các chế phẩm thảo dược truyền thống Trung Quốc khác), ngoài các thực phẩm chức
năng (ví dụ: 1,3-dimethylamylamine trong OxyELITE Pro, một thực phẩm chức năng
giảm cân đã bị rút khỏi thị trường Hoa Kỳ).
C. Các phản ứng khác
- Gan nhiễm mỡ
- ĐẠI THỂ: Loại tổn thương gan này có thể
do rượu, amiodarone, corticosteroid, haloperidol, irinotecan, lomipatide,
methotrexate, mipomersen, tamoxifen, vinyl chloride (ở công nhân tiếp
xúc), zalcitabine và có thể oxaliplatin.
- VI THỂ: Thường do tổn thương ty thể,
gan nhiễm mỡ vi thể liên quan đến aspirin (hội chứng Reye), didanosine,
linezolid, stavudine, tetracycline, axit valproic và zidovudine.
- U hạt – Allopurinol, hydralazine,
pembrolizumab và các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch khác,
phenytoin, pyrazinamide, quinidine, quinine, sulfasalazine và vemurafenib
có thể dẫn đến u hạt và trong một số trường hợp, viêm gan u hạt.
- Xơ hóa và xơ gan – Methotrexate và vitamin A
liên quan đến xơ hóa và xơ gan.
- Hội chứng tắc nghẽn xoang (bệnh
tắc tĩnh mạch gan) – Rối loạn này có thể do điều trị bằng thuốc chống ung thư (ví
dụ: trước ghép tủy xương, busulfan, gemtuzumab ozogamicin, inotuzumab
ozogamicin, oxaliplatin), mycophenolate mofetil và alkaloid pyrrolizidine
(ví dụ: comfrey).
- Peliosis gan (khoang chứa đầy
máu) –
Peliosis gan có thể do steroid đồng hóa và thuốc tránh thai đường uống
cũng như azathioprine và mercaptopurine, cũng có thể gây tăng sản thể tân
sinh dạng nốt và các dạng tổn thương gan khác.
- Tăng sản thể tân sinh dạng nốt – Có thể do azathioprine,
5-fluorouracil, oxaliplatin và thioguanine.
- Khối u tân sinh – Có thể do điều trị bằng
thuốc tránh thai đường uống, bao gồm estrogen (u tuyến gan nhưng không
phải tăng sản thể tân sinh khu trú) và vinyl chloride (angiosarcoma).
Khi
nào cần giới thiệu
Giới thiệu bệnh nhân bị
viêm gan do thuốc và chất độc cần sinh thiết gan để chẩn đoán.
Khi
nào cần nhập viện
Bệnh nhân suy gan cần
nhập viện.
BỆNH
GAN NHIỄM MỠ LIÊN QUAN ĐẾN RỐI LOẠN CHỨC NĂNG CHUYỂN HÓA (MASLD)
NHỮNG
ĐIỂM CHÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN
- Thường không có triệu chứng.
- Nồng độ aminotransferase tăng,
gan to hoặc gan nhiễm mỡ trên siêu âm.
- Gan nhiễm mỡ đại thế chủ yếu có
hoặc không có viêm và xơ hóa trên sinh thiết gan.
Đại
cương
Bệnh gan nhiễm mỡ (SLD)
là thuật ngữ chung cho tình trạng mỡ gan quá mức. MASLD chỉ ra sự hiện diện của
ít nhất một thành phần của hội chứng chuyển hóa trong bối cảnh SLD: thừa cân
hoặc béo phì, đái tháo đường type 2, rối loạn điều hòa glucose, tăng huyết áp
và rối loạn lipid máu (thường là HDL giảm). MASLD (trước đây là NAFLD) được ước
tính ảnh hưởng đến 36% dân số người lớn Hoa Kỳ và tỷ lệ mắc mới đã tăng ít nhất
năm lần kể từ cuối những năm 1990. Ngay cả thanh thiếu niên và người trẻ tuổi
cũng có thể bị ảnh hưởng. Nguyên nhân chính của MASLD là béo phì (hiện diện ở
40% hoặc hơn bệnh nhân mắc), đái tháo đường (ở 20% hoặc hơn) và tăng
triglycerid máu (ở 20% hoặc hơn) cùng với kháng insulin như một phần của hội
chứng chuyển hóa. Hơn nữa, hơn 25% bệnh nhân tiêu thụ ít nhất 20 g rượu mỗi
ngày và thuật ngữ bệnh gan do chuyển hóa và rượu (MetALD) được sử dụng cho nhóm
bệnh nhân này. Nguy cơ MASLD ở người mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp 4 đến 11
lần so với người không có kháng insulin. Người không béo phì (thường là người
châu Á) chiếm 7-20% số người mắc NAFLD và có các đặc điểm chuyển hóa điển hình
của kháng insulin. Các nguyên nhân khác gây gan nhiễm mỡ bao gồm
corticosteroid, amiodarone, diltiazem, methotrexate, tamoxifen, irinotecan,
oxaliplatin, liệu pháp kháng virus, chất độc (vinyl chloride, carbon
tetrachloride, phosphorus vàng), các bệnh lý nội tiết như hội chứng Cushing và
suy tuyến yên, hội chứng buồng trứng đa nang, suy giáp, giảm betalipoprotein
máu và các rối loạn chuyển hóa khác, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (với thiếu
oxy gián đoạn mạn tính), tiêu thụ quá nhiều fructose trong chế độ ăn, suy dinh
dưỡng, đói và hội chứng nuôi dưỡng lại, và dinh dưỡng toàn phần qua đường tĩnh
mạch. Nguy cơ MASLD tăng ở người mắc bệnh vẩy nến và dường như tương quan với
hoạt động của bệnh vẩy nến. Tiêu thụ nước ngọt và thịt đỏ, các chất ô nhiễm
không khí xung quanh và cắt túi mật đã được báo cáo có liên quan đến MASLD.
Hoạt động thể chất bảo vệ chống lại sự phát triển của MASLD.
Ngoài gan nhiễm mỡ đại
thể, các đặc điểm mô học có thể bao gồm thâm nhiễm khu trú bởi bạch cầu đa nhân
trung tính và hyalin Mallory, một hình ảnh không thể phân biệt với viêm gan do
rượu và được gọi là viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chức năng chuyển
hóa (MASH), ảnh hưởng đến 3-6% dân số Hoa Kỳ và dẫn đến xơ gan ở khoảng 20% số
người mắc. Ở bệnh nhân MASLD, tuổi già, béo phì và đái tháo đường là các yếu tố
nguy cơ của xơ hóa gan tiến triển và xơ gan, trong khi uống cà phê làm giảm
nguy cơ. Tần suất và mức độ nghiêm trọng của MASLD cao hơn ở nam so với nữ
trong độ tuổi sinh sản, nhưng sau mãn kinh, tần suất cao hơn ở nữ so với nam,
gợi ý estrogen có tác dụng bảo vệ. Tuy nhiên, ở phụ nữ, sử dụng hormone tổng
hợp (thuốc tránh thai và liệu pháp thay thế hormone) làm tăng mức độ nghiêm
trọng về mô học của MASH. Xơ gan do MASH dường như không phổ biến ở người da
đen. Những người mắc MASLD có nguy cơ cao hơn đối với CVD, CKD và ung thư đại
trực tràng.
Gan nhiễm mỡ vi thể thấy
trong hội chứng Reye, độc tính do didanosine, stavudine, linezolid, axit
valproic hoặc tetracycline liều cao; và gan nhiễm mỡ cấp tính của thai kỳ và có
thể dẫn đến suy gan cấp.
Biểu
hiện lâm sàng
A. Triệu chứng và Dấu
hiệu
Hầu hết bệnh nhân MASLD
không có triệu chứng hoặc có khó chịu nhẹ vùng hạ sườn phải. Gan to hiện diện ở
tới 75% bệnh nhân, nhưng các dấu hiệu của bệnh gan mạn tính không phổ biến. Các
dấu hiệu tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường biểu thị xơ hóa gan tiến triển hoặc
xơ gan nhưng đôi khi xảy ra ở bệnh nhân xơ hóa nhẹ hoặc không có và gan nhiễm
mỡ nặng.
B. Xét nghiệm
Xét nghiệm có thể cho
thấy nồng độ aminotransferase và phosphatase kiềm tăng nhẹ; tuy nhiên, các giá
trị xét nghiệm có thể bình thường ở tới 80% người bị gan nhiễm mỡ. Trái ngược
với bệnh gan liên quan đến rượu, tỷ lệ ALT/AST hầu như luôn lớn hơn 1,0 trong
MASLD, nhưng tỷ lệ này giảm, thường xuống dưới 1,0, khi xơ hóa tiến triển và xơ
gan phát triển. ANA hoặc kháng thể cơ trơn và nồng độ ferritin huyết thanh tăng
có thể được phát hiện ở 30% bệnh nhân MASH. Thiếu sắt cũng phổ biến và liên
quan đến giới tính nữ, béo phì, tăng vòng eo, đái tháo đường và những người da
đen hoặc người Mỹ bản địa.
C. Chẩn đoán hình ảnh
Gan nhiễm mỡ đại thể có
thể được phát hiện trên siêu âm, CT hoặc MRI. Tuy nhiên, hình ảnh không phân
biệt được gan nhiễm mỡ với viêm gan nhiễm mỡ hoặc phát hiện xơ hóa. Khi có sẵn,
thông số suy giảm có kiểm soát đo trong quá trình đo độ đàn hồi nhất thời, phần
mỡ qua MRI – mật độ proton hoặc quang phổ cộng hưởng từ cho phép định lượng hàm
lượng mỡ gan và dường như tương quan với nguy cơ tiến triển xơ hóa; đo độ đàn
hồi siêu âm hoặc cộng hưởng từ để đánh giá độ cứng gan có thể được sử dụng để
ước tính xơ hóa gan.
D. Sinh thiết gan và
điểm số nguy cơ
Sinh thiết gan qua da có
giá trị chẩn đoán và từng là cách tiếp cận tiêu chuẩn để đánh giá mức độ viêm
và xơ hóa. Cần cân nhắc rủi ro của thủ thuật với tác động của thông tin bổ sung
đối với quyết định quản lý và đánh giá tiên lượng. Sinh thiết gan nói chung
không được khuyến nghị ở những người không có triệu chứng với gan nhiễm mỡ tình
cờ phát hiện trên hình ảnh nhưng kết quả xét nghiệm sinh hóa gan bình thường.
Phổ mô học của MASLD bao gồm gan nhiễm mỡ, xơ hóa cửa đơn độc, viêm gan nhiễm
mỡ và xơ gan. Các phương pháp tiếp cận không xâm lấn để đánh giá xơ hóa hiện
được ưa chuộng, với sinh thiết gan được dành riêng khi kết quả xét nghiệm không
xâm lấn không kết luận. Do tính đơn giản, điểm FIB-4 thường được sử dụng để
loại trừ xơ hóa tiến triển. Nó dựa trên tuổi, số lượng tiểu cầu và nồng độ AST
và ALT huyết thanh và nên được lặp lại mỗi 1-2 năm. Một điểm số nguy cơ khác
cho xơ hóa tiến triển, Điểm Xơ hóa NAFLD (https://www.mdcalc.com/calc/3081/nafld-non-alcoholic-fatty-liverdisease-fibrosis-score)
dựa trên tuổi, tăng đường huyết, BMI, số lượng tiểu cầu, albumin và tỷ lệ
AST/ALT, có giá trị tiên đoán dương trên 80% và xác định bệnh nhân có nguy cơ
biến chứng liên quan đến gan và tử vong tăng. Một hệ thống điểm số lâm sàng để
dự đoán khả năng MASH ở người béo phì bệnh lý bao gồm sáu yếu tố dự đoán: tăng
huyết áp, đái tháo đường type 2, ngưng thở khi ngủ, AST > 27 U/L (0,54
mckat/L), ALT > 27 U/L (0,54 mckat/L) và chủng tộc không phải da đen. Điểm
Xơ hóa Gan Tăng cường (ELF), bao gồm chất ức chế metalloproteinase mô 1,
propeptide aminoterminal của procollagen loại III và axit hyaluronic, cho thấy
tương quan tốt với giai đoạn xơ hóa và ngày càng được sử dụng khi điểm FIB-4
tăng. Đo độ cứng gan bằng kỹ thuật đo đàn hồi là một phương pháp khác để đánh giá
giai đoạn xơ hóa khi điểm FIB-4 tăng; nói chung, kết quả có thể kém chính xác
hơn ở người béo phì so với người không béo phì.
Điều
trị
Điều trị bao gồm thay
đổi lối sống để loại bỏ hoặc điều chỉnh các yếu tố gây bệnh thường trong bối
cảnh phòng khám đa chuyên khoa. Giảm cân, hạn chế calo và fructose trong chế độ
ăn, tăng chất xơ và tập thể dục vừa phải (thông qua giảm béo bụng) thường cải
thiện các xét nghiệm sinh hóa gan và gan nhiễm mỡ ở bệnh nhân béo phì có MASLD.
Chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giảm mỡ gan mà không cần giảm cân và thường được
khuyến nghị. Nhịn ăn gián đoạn có vẻ có lợi. Nói chung, giảm 5% trọng lượng cơ
thể có vẻ cần thiết để cải thiện gan nhiễm mỡ, giảm ≥ 7% cải thiện viêm gan
nhiễm mỡ và giảm ≥ 10% cải thiện xơ hóa. Tập thể dục có thể làm giảm mỡ gan dù
giảm cân ít hoặc không giảm và không giảm nồng độ ALT. Tập kháng lực và tập thể
dục nhịp điệu có hiệu quả tương đương trong việc giảm hàm lượng mỡ gan ở bệnh
nhân MASLD và đái tháo đường type 2. Mặc dù khuyến cáo tránh rượu, nhưng uống
rượu vang vừa phải có thể không có hại ở người không hút thuốc.
Các loại thuốc khác nhau
để điều trị MASH đang được nghiên cứu. Vitamin E 800 IU/ngày (để giảm stress
oxy hóa) dường như có lợi ở bệnh nhân NASH không bị đái tháo đường. Có tranh
cãi về việc vitamin E có làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới và
đột quỵ xuất huyết hay không; hơn nữa, lợi ích thường không kéo dài.
Thiazolidinedione làm đảo ngược kháng insulin và trong hầu hết các nghiên cứu
liên quan, đã cải thiện cả nồng độ aminotransferase huyết thanh và đặc điểm mô
học của viêm gan nhiễm mỡ nhưng dẫn đến tăng cân. Axit obeticholic, một chất
chủ vận thụ thể farnesoid X đã được phê duyệt để điều trị PBC, đã được chứng
minh là cải thiện xơ hóa gan ở bệnh nhân MASH. Semaglutide và liraglutide, các
chất tương tự glucagon-like protein-1, và tirzepatide, một chất chủ vận thụ thể
polypeptide ức chế glucose phụ thuộc insulin, được sử dụng như liệu pháp giảm
cân và đã cho thấy hiệu quả trong MASLD, mặc dù vẫn chưa rõ liệu các thuốc này
có dẫn đến đảo ngược xơ hóa hay không. Vào năm 2024, FDA đã cấp phép tăng tốc
cho resmetirom, một chất chủ vận thụ thể hormone tuyến giáp beta, cho bệnh nhân
MASH và xơ hóa. Statin không chống chỉ định ở người mắc MASLD và có thể bảo vệ
chống lại tiến triển mô học ở một số bệnh nhân. Phẫu thuật giảm béo có thể được
xem xét ở bệnh nhân BMI > 35 và dẫn đến thoái lui mô học của MASH ở hầu hết
bệnh nhân (nhưng xấu đi ở một số ít). Ghép gan được chỉ định ở các ứng viên
thích hợp bị xơ gan tiến triển do MASH, là chỉ định ghép gan phổ biến thứ ba
(và gia tăng nhanh nhất) tại Hoa Kỳ. Ghép gan cho MASH với xơ gan tiến triển có
thể liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong do CVD và nhiễm trùng huyết so với ghép
gan cho các chỉ định khác.
Tiên
lượng
Gan nhiễm mỡ thường có
diễn tiến lành tính hoặc tiến triển chậm và có thể hồi phục dễ dàng khi ngừng
rượu và điều trị các bệnh nền khác. Nếu không điều trị, xơ hóa tiến triển với
tốc độ trung bình một giai đoạn mỗi 14 năm, với 20% bệnh nhân tiến triển nhanh
hơn. Ở bệnh nhân MASLD, khả năng mắc MASH tăng bởi các yếu tố sau: béo phì,
tuổi già, chủng tộc khác ngoài da đen, giới tính nữ, đái tháo đường, tăng huyết
áp, nồng độ ALT hoặc AST cao hơn, tỷ lệ AST/ALT cao hơn, số lượng tiểu cầu
thấp, nồng độ C-peptide lúc đói tăng và điểm số gan nhiễm mỡ trên siêu âm cao.
MASH có thể liên quan đến xơ hóa gan trong 40% trường hợp với tốc độ tiến triển
một giai đoạn mỗi 7 năm; xơ gan phát triển ở 9-25%; và xơ gan mất bù xảy ra ở
30-50% bệnh nhân xơ gan trong 10 năm. Diễn tiến có thể tích cực hơn ở người đái
tháo đường so với người không đái tháo đường. Tại Hoa Kỳ, MASLD liên quan đến
8% tổng số tử vong và hơn một phần ba số ca tử vong liên quan đến bệnh gan và
đái tháo đường. Tỷ lệ tử vong tăng ở bệnh nhân MASLD, tương quan với giai đoạn
xơ hóa và là kết quả của CVD và ung thư (bao gồm HCC, ung thư đại trực tràng và
ung thư vú) cũng như bệnh gan. Các yếu tố nguy cơ tử vong là tuổi già, giới
tính nam, chủng tộc da trắng, biến thể 1148M của gen PNPLA3, hút thuốc, BMI cao
hơn, tăng huyết áp, đái tháo đường, mất an ninh lương thực và giai đoạn xơ hóa
tiến triển. Trong dân số chung, cả béo phì quá mức và giảm hoạt động đều là yếu
tố dự đoán đáng kể về tử vong liên quan đến gan. Gan nhiễm mỡ là một yếu tố
đồng thời cho tiến triển xơ hóa ở bệnh nhân với các nguyên nhân khác gây bệnh
gan mạn tính, như viêm gan C, và MASLD dường như là một yếu tố nguy cơ của CKD.
HCC là một biến chứng của xơ gan do MASH, giống như đối với các nguyên nhân xơ
gan khác, và đã được báo cáo ngay cả khi không có xơ gan. NASH chiếm một tỷ lệ
đáng kể các trường hợp được gọi là xơ gan không rõ nguyên nhân và có thể tái
phát sau ghép gan. Béo phì trung tâm là một yếu tố nguy cơ độc lập gây tử vong
do xơ gan từ bất kỳ nguyên nhân nào.
Khi
nào cần giới thiệu
Giới thiệu bệnh nhân
MASLD cần sinh thiết gan để chẩn đoán và những người có bằng chứng xơ hóa tiến
triển để quản lý.
Bảng 18-6. Thuốc kháng
virus tác động trực tiếp cho nhiễm HCV (theo thứ tự bảng chữ cái trong từng
nhóm).¹
|
Thuốc |
Kiểu gen |
Liều² |
Chú thích |
|
Chất ức chế NS3/4A
Protease |
|||
|
Glecaprevir |
1–6 |
300 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
pibrentasvir³ có hoặc không có ribavirin |
|
Grazoprevir |
1 và 4 |
100 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
elbasvir⁴ |
|
Paritaprevir |
1 và 4 |
150 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
ombitasvir và dasabuvir; tăng cường với ritonavir (100 mg)⁵ cho kiểu gen 1b
có xơ gan và kiểu gen 1a, dùng với ribavirin. Dùng kết hợp với ombitasvir,
tăng cường ritonavir và ribavirin cho kiểu gen 4⁶ |
|
Simeprevir |
1 và 4 |
150 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
sofosbuvir |
|
Voxilaprevir |
1–6 |
100 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
sofosbuvir và velpatasvir⁷ |
|
Chất ức chế NS5A |
|||
|
Daclatasvir⁸ |
1–6 |
60 mg uống một lần
mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
sofosbuvir (kiểu gen 1–6, có hoặc không có ribavirin tùy thuộc vào sự hiện
diện của xơ gan) hoặc với asunaprevir (không có ở Hoa Kỳ) |
|
Elbasvir |
1 và 4 |
50 mg uống một lần
mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
grazoprevir (xem ở trên) |
|
Ledipasvir |
1, 4–6 |
90 mg uống một lần
mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
sofosbuvir⁹ |
|
Ombitasvir |
1 và 4 |
25 mg uống một lần
mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
paritaprevir (tăng cường ritonavir) có hoặc không có dasabuvir và có hoặc
không có ribavirin theo paritaprevir ở trên |
|
Pibrentasvir |
1–6 |
120 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
glecaprevir có hoặc không có ribavirin |
|
Velpatasvir |
1–6 |
100 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
sofosbuvir¹⁰; có thể dùng với sofosbuvir và voxilaprevir |
|
Chất ức chế
polymerase NS5B Nucleos(t)ide |
|||
|
Sofosbuvir |
1–6 |
400 mg uống một
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
ribavirin (kiểu gen 2 và 3) hoặc với simeprevir (kiểu gen 1 và 4) hoặc với
daclatasvir (tất cả kiểu gen) hoặc với ledipasvir (kiểu gen 1, 3 và 4) hoặc
với velpatasvir (tất cả kiểu gen) hoặc với velpatasvir và voxilaprevir (tất
cả kiểu gen) |
|
Chất ức chế
polymerase NS5B Non-Nucleos(t)ide |
|||
|
Dasabuvir |
1 và 4 |
250 mg uống hai
lần mỗi ngày |
Dùng kết hợp với
paritaprevir (tăng cường ritonavir) và ombitasvir có hoặc không có ribavirin
theo paritaprevir ở trên |
Chú thích bảng:
¹Các phác đồ được FDA phê duyệt tính đến đầu năm 2022.
²Phác đồ và thời gian điều trị ưu tiên có thể khác nhau tùy thuộc vào kiểu gen
HCV, sự hiện diện hay không có xơ gan hoặc CKD, hoặc không đáp ứng với điều trị
trước đó cho nhiễm HCV. Trong một số trường hợp được chọn, có thể cân nhắc xét
nghiệm các đột biến thay thế liên quan đến đề kháng.
³Được tiếp thị với tên Mayvret.
⁴Được tiếp thị với tên Zepatier (Merck) cho nhiễm HCV kiểu gen 1 và 4.
⁵Được tiếp thị với tên Viekira Pak và Viekira XR (AbbVie).
⁶Được tiếp thị với tên Technivie (AbbVie).
⁷Được tiếp thị với tên Vosevi (Gilead Sciences).
⁸Được FDA phê duyệt để sử dụng với sofosbuvir trong nhiễm HCV kiểu gen 1 và 3
nhưng đã bị rút khỏi thị trường Hoa Kỳ vào năm 2019.
⁹Được tiếp thị với tên Harvoni (Gilead Sciences).
¹⁰Được tiếp thị với tên Epclusa (Gilead Sciences)
Bảng 18–7. Các phác đồ điều trị kháng virus tác động trực tiếp (DAA)
đường uống được FDA phê duyệt ưu tiên cho nhiễm HCV.¹
|
Phác đồ |
Chỉ định |
Thời gian điều trị ở bệnh nhân chưa
từng điều trị và không xơ gan (tuần) |
|
Glecaprevir và pibrentasvir |
Genotype 1–6 và genotype 1 đã từng
điều trị bằng DAA |
8 |
|
Sofosbuvir và velpatasvir |
Genotype 1–6, và genotype 1b và 2 đã
từng điều trị bằng DAA |
12 |
|
Sofosbuvir, velpatasvir, và
voxilaprevir |
Genotype 1–6 đã từng điều trị bằng
DAA |
– |
¹ Ghi chú: Dựa trên Hướng dẫn
năm 2018 của Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh gan Hoa Kỳ/Hiệp hội Bệnh nhiễm trùng Hoa
Kỳ (AASLD/IDSA). Vào cuối năm 2019, hai phác đồ ưu tiên đã được đề xuất:
glecaprevir và pibrentasvir trong 8 tuần (genotype 1–6) và sofosbuvir và
velpatasvir trong 12 tuần (genotype 1, 2, 4, 5, 6). Xem Hướng dẫn HCV: Khuyến
nghị về xét nghiệm, quản lý và điều trị viêm gan C tại http://www.hcvguidelines.org,
truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2021.
XƠ GAN
NHỮNG
ĐIỂM CHÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN
- Hậu quả của tổn thương dẫn đến cả
xơ hóa và các nốt tái tạo.
- Có thể hồi phục nếu loại bỏ được
nguyên nhân.
- Các đặc điểm lâm sàng là hậu quả
của rối loạn chức năng tế bào gan, shunt cửa-chủ và tăng áp lực tĩnh mạch
cửa.
Đại
cương
Xơ gan là hậu quả của
tổn thương tế bào gan kèm viêm dẫn đến cả xơ hóa và các nốt tái tạo khắp gan.
Tỷ lệ hiện mắc là 0,27% với ước tính 1,5 tỷ người mắc bệnh gan mạn tính và 2,14
triệu ca tử vong liên quan đến gan trên toàn thế giới (nguyên nhân đứng thứ
11). Tỷ lệ nhập viện vì xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa đang gia tăng tại
Hoa Kỳ, và bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính có thời gian nằm viện lâu hơn, tái
nhập viện nhiều hơn và ít được tiếp cận chăm sóc sau cấp tính hơn so với bệnh
nhân mắc các bệnh mạn tính khác. Nguyên nhân bao gồm rượu; MASLD; viêm gan
virus mạn tính; độc tính thuốc; bệnh gan tự miễn và chuyển hóa; và các rối loạn
khác. Bệnh Celiac dường như có liên quan đến tăng nguy cơ xơ gan. Nhiều bệnh
nhân có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ (ví dụ, viêm gan mạn tính và sử dụng rượu)
và có thể có khuynh hướng di truyền. Người Mỹ gốc Mexico và người da đen có tần
suất xơ gan cao hơn người da trắng do tỷ lệ các yếu tố nguy cơ cao hơn. Ở những
người có nguy cơ tổn thương gan tăng (ví dụ, sử dụng nhiều rượu, béo phì, thừa
sắt), uống cà phê và trà nhiều hơn và sử dụng statin làm giảm nguy cơ xơ gan.
Về mặt lâm sàng, xơ gan
được coi là tiến triển qua ba giai đoạn tương quan với độ dày của vách xơ: còn
bù, còn bù có giãn tĩnh mạch và mất bù (cổ trướng, chảy máu giãn tĩnh mạch,
bệnh não hoặc vàng da).
Cần chẩn đoán suy gan
cấp trên nền mạn tính ở bệnh nhân xơ gan và mất bù cấp tính (cổ trướng mới hoặc
nặng hơn, xuất huyết tiêu hóa, bệnh não rõ, vàng da tắc mật không do tắc nghẽn
nặng hơn hoặc nhiễm trùng kèm suy tạng khác). Các yếu tố thúc đẩy bao gồm nhiễm
trùng, mất ổn định huyết động, sử dụng nhiều rượu và độc tính gan do thuốc.
Biểu
hiện lâm sàng
A. Triệu chứng và Dấu
hiệu
Các đặc điểm lâm sàng
của xơ gan là hậu quả của rối loạn chức năng tế bào gan, shunt cửa-chủ và tăng
áp lực tĩnh mạch cửa. Bệnh nhân có thể không có triệu chứng trong thời gian
dài. Khởi phát triệu chứng có thể âm thầm hoặc ít gặp hơn là đột ngột. Mệt mỏi,
rối loạn giấc ngủ, chuột rút cơ và giảm cân là phổ biến. Trong xơ gan tiến
triển, chán ăn thường hiện diện và có thể rất nặng, kèm buồn nôn và đôi khi
nôn, cũng như giảm sức mạnh cơ và khả năng gắng sức. Đau bụng có thể hiện diện
và liên quan đến gan to và căng bao Glisson hoặc do cổ trướng. Thoát vị thành
bụng xảy ra ở 20% người bị xơ gan. Rối loạn kinh nguyệt (thường là vô kinh),
rối loạn cương dương, giảm ham muốn tình dục, vô sinh và nữ hóa tuyến vú có thể
xảy ra. Nôn ra máu là triệu chứng khởi đầu ở 15-25%. Nguy cơ té ngã tăng ở bệnh
nhân xơ gan và té ngã có liên quan đến tử vong.
Biểu hiện trên da bao
gồm giãn mạch hình nhện (luôn ở nửa trên cơ thể), ban đỏ lòng bàn tay (đỏ lốm
đốm ở mô cái và mô út), co rút Dupuytren và móng Terry. Bằng chứng thiếu
vitamin (viêm lưỡi và viêm mép) thường gặp. Giảm cân, suy mòn (do thiểu cơ) và
biểu hiện bệnh mạn tính hiện diện trong xơ gan tiến triển. Vàng da — thường
không phải dấu hiệu ban đầu — lúc đầu nhẹ, tăng dần mức độ nghiêm trọng trong
giai đoạn sau của bệnh. Trong 70% trường hợp, gan to, có thể sờ thấy và chắc
nếu không cứng, và có bờ sắc hoặc dạng nốt; thùy trái có thể chiếm ưu thế. Lách
to hiện diện trong 35-50% trường hợp và có liên quan đến tăng nguy cơ biến
chứng của tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Các tĩnh mạch nông của bụng và ngực giãn
ra, phản ánh sự cản trở trong gan đối với dòng máu tĩnh mạch cửa, cũng như giãn
tĩnh mạch trực tràng. Các tĩnh mạch thành bụng đầy từ dưới lên khi bị nén. Cổ
trướng, tràn dịch màng phổi, phù ngoại vi và bầm tím là các dấu hiệu muộn. Cổ
trướng được phân loại là độ 1, hoặc nhẹ, khi chỉ phát hiện được bằng siêu âm;
độ 2, hoặc trung bình, khi liên quan đến chướng bụng đối xứng; và độ 3, hoặc
nặng, khi liên quan đến chướng bụng rõ rệt. Bệnh não, đặc trưng bởi đảo ngược
ngày-đêm, dấu hiệu vỗ cánh (asterixis), run, nói khó, mê sảng, buồn ngủ và cuối
cùng là hôn mê, cũng xảy ra muộn trong diễn biến; nó có thể hồi phục khi bị
thúc đẩy bởi một tổn thương tế bào gan cấp tính hoặc một đợt chảy máu tiêu hóa
hoặc nhiễm trùng. Sốt hiện diện ở tới 35% bệnh nhân và thường phản ánh viêm gan
do rượu kèm theo, viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát hoặc một nhiễm trùng kẽ
khác.
B. Xét nghiệm
Các bất thường xét
nghiệm hoặc không có hoặc tối thiểu trong xơ gan sớm hoặc còn bù. Thiếu máu,
một phát hiện thường gặp, thường là hồng cầu to; nguyên nhân bao gồm ức chế tạo
hồng cầu do rượu cũng như thiếu folate, tan máu, lách to và mất máu tiềm ẩn hoặc
rõ ràng từ đường tiêu hóa. Số lượng bạch cầu có thể thấp, phản ánh lách to,
hoặc cao, gợi ý nhiễm trùng. Giảm tiểu cầu, giảm tế bào máu phổ biến nhất ở
bệnh nhân xơ gan, là thứ phát do ức chế tủy do rượu, nhiễm trùng huyết, thiếu
folate hoặc cô lập lách. Kéo dài thời gian prothrombin có thể do giảm nồng độ
các yếu tố đông máu (ngoại trừ yếu tố VIII). Tuy nhiên, nguy cơ chảy máu tương
quan kém với thời gian prothrombin do các bất thường đồng thời của tiêu sợi
huyết, và ở bệnh nhân nhập viện dưới 45 tuổi, xơ gan có liên quan đến tăng nguy
cơ VTE.
Hóa sinh máu phản ánh
tổn thương và rối loạn chức năng tế bào gan, biểu hiện bằng tăng nhẹ AST và
phosphatase kiềm và tăng dần bilirubin. Albumin huyết thanh giảm khi bệnh tiến
triển; nồng độ gamma-globulin tăng và có thể cao như trong viêm gan tự miễn. Nguy
cơ đái tháo đường tăng ở bệnh nhân xơ gan, đặc biệt khi liên quan đến nhiễm
HCV, nghiện rượu, bệnh hemochromatosis hoặc MASLD. Thiếu vitamin D đã được báo
cáo ở tới 91% bệnh nhân xơ gan. Trong xơ gan do mọi nguyên nhân, những điều sau
đây phổ biến: (1) đáp ứng co bóp và nhịp tim của tim đối với tập thể dục, căng
thẳng và thuốc bị suy giảm, (2) kéo dài khoảng QT trong bối cảnh tuần hoàn tăng
động, và (3) rối loạn chức năng tâm thu và tâm trương thất trong trường hợp
không có nguyên nhân bệnh tim đã biết khác ("bệnh cơ tim do xơ gan").
Suy thượng thận tương đối dường như phổ biến ở bệnh nhân xơ gan tiến triển,
ngay cả khi không có nhiễm trùng huyết và ở những người bị suy gan cấp trên nền
mạn tính.
C. Chẩn đoán hình ảnh
Siêu âm hữu ích để đánh
giá kích thước gan và phát hiện cổ trướng hoặc các nốt gan, bao gồm cả HCC nhỏ.
Cùng với nghiên cứu Doppler, nó có thể xác định sự thông suốt của các tĩnh mạch
lách, cửa và gan. Các nốt gan được mô tả đặc điểm thêm bằng CT hoặc MRI có cản
quang. Các nốt không xác định được ác tính có thể được sinh thiết dưới hướng
dẫn siêu âm hoặc CT.
D. Sinh thiết gan
Sinh thiết gan có thể
cho thấy xơ gan không hoạt động (xơ hóa với các nốt tái tạo) mà không có đặc
điểm cụ thể gợi ý nguyên nhân cơ bản. Ngoài ra, có thể có thêm các đặc điểm của
bệnh gan liên quan đến rượu, viêm gan mạn tính, MASH hoặc các nguyên nhân cụ
thể khác của xơ gan. Sinh thiết gan thường được thực hiện bằng kỹ thuật có
hướng dẫn siêu âm nhưng có thể được thực hiện bằng nội soi ổ bụng hoặc ở bệnh
nhân có rối loạn đông máu và cổ trướng, bằng phương pháp xuyên tĩnh mạch cảnh
hoặc siêu âm nội soi. Sự kết hợp các xét nghiệm máu thông thường (ví dụ, AST,
số lượng tiểu cầu), bao gồm xét nghiệm FibroSure, dấu ấn huyết thanh của xơ hóa
gan (ví dụ, axit hyaluronic, propeptide aminoterminal của collagen loại III,
chất ức chế mô của matrix metalloproteinase 1) và đo độ đàn hồi siêu âm hoặc
cộng hưởng từ là các lựa chọn thay thế tiềm năng cho sinh thiết gan để chẩn
đoán hoặc loại trừ xơ gan. Ví dụ, ở những người bị viêm gan C mạn tính, điểm
FibroSure hoặc đo độ đàn hồi thấp loại trừ xơ hóa tiến triển một cách đáng tin
cậy, điểm cao dự đoán xơ hóa tiến triển một cách đáng tin cậy và điểm trung
gian không kết luận. Sự kết hợp giữa độ cứng gan tăng và số lượng tiểu cầu dưới
150.000/mcl (150 × 10⁹/L) là một chỉ báo của tăng áp lực tĩnh mạch cửa có ý
nghĩa lâm sàng và là chỉ định để sàng lọc giãn tĩnh mạch thực quản.
E. Các xét nghiệm khác
Nội soi dạ dày thực quản
tá tràng xác nhận sự hiện diện của giãn tĩnh mạch và phát hiện các nguyên nhân
cụ thể gây chảy máu ở thực quản, dạ dày và tá tràng gần. Trong các trường hợp
được chọn, đo áp lực tĩnh mạch gan bít có thể xác định sự hiện diện và nguyên
nhân của tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
Chẩn
đoán phân biệt
Các nguyên nhân phổ biến
nhất của xơ gan là rượu, nhiễm HCV hoặc HBV mạn tính và MASLD. Bệnh
Hemochromatosis là rối loạn di truyền được xác định phổ biến nhất. Các bệnh
khác liên quan đến xơ gan bao gồm bệnh Wilson, thiếu hụt alpha-1-antitrypsin
(alpha-1-antiprotease) và bệnh Celiac. PBC xảy ra thường xuyên hơn ở phụ nữ so
với nam giới. Xơ gan ứ mật thứ phát có thể do tắc nghẽn đường mật mạn tính do
sỏi, hẹp hoặc ung thư. Suy tim và viêm màng ngoài tim co thắt có thể dẫn đến xơ
hóa gan ("xơ gan do tim") phức tạp bởi cổ trướng. Giãn mạch xuất
huyết di truyền có thể dẫn đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa do shunt cửa-chủ và
biến đổi dạng nốt của gan cũng như suy tim cung lượng cao. Nhiều trường hợp xơ
gan là "không rõ nguyên nhân", trong đó MASLD không được nhận biết có
thể đóng một vai trò.
Biến
chứng
Chảy máu đường tiêu hóa
trên có thể xảy ra từ giãn tĩnh mạch, giãn mạch hang vị dạ dày, bệnh lý tăng áp
lực tĩnh mạch cửa dạ dày hoặc loét dạ dày tá tràng (xem Chương 17). Giãn tĩnh
mạch cũng có thể do huyết khối tĩnh mạch cửa, có thể làm phức tạp xơ gan. Suy
gan có thể bị thúc đẩy bởi nghiện rượu, phẫu thuật và nhiễm trùng. Rối loạn
chức năng tế bào Kupffer gan (hệ võng mạc nội mô) và giảm hoạt động opsonin dẫn
đến tăng nguy cơ nhiễm trùng toàn thân (có thể tăng thêm do sử dụng PPI, làm
tăng tỷ lệ tử vong lên gấp bốn lần). Các nhiễm trùng này bao gồm nhiễm trùng
bệnh viện, có thể được phân loại là nhiễm trùng máu tự phát, nhiễm trùng đường
tiết niệu, nhiễm trùng phổi, viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát, nhiễm
Clostridium difficile và nhiễm trùng liên quan đến can thiệp. Các nhiễm trùng
bệnh viện này ngày càng do vi khuẩn kháng đa thuốc gây ra. Loãng xương xảy ra ở
12-55% bệnh nhân xơ gan. Nguy cơ HCC tăng lên rất nhiều ở người bị xơ gan (xem
Chương 41). Giãn tĩnh mạch, cổ trướng và bệnh não có thể phát sinh khi có tăng
áp lực tĩnh mạch cửa có ý nghĩa lâm sàng (gradient áp lực tĩnh mạch gan > 10
mmHg).
Điều
trị
A. Các biện pháp chung
Điều quan trọng nhất là
cai rượu. Chế độ ăn nên ngon miệng, có đủ calo (20-40 kcal/kg cân nặng/ngày tùy
thuộc vào BMI của bệnh nhân và sự hiện diện hay không có suy dinh dưỡng) và
protein (1,2 - 1,5 g/kg/ngày tùy thuộc vào sự hiện diện hay không có suy dinh
dưỡng) và nếu giữ nước, hạn chế natri. Khi có bệnh não gan, nên giảm lượng
protein xuống không dưới 60-80 g/ngày. Bổ sung vitamin là mong muốn. Chuột rút
cơ có thể được cải thiện bằng L-carnitine 300 mg uống bốn lần một ngày, canxi,
quinidine, baclofen, thuốc giãn cơ, nước dưa muối hoặc albumin truyền tĩnh
mạch. Ở bệnh nhân có tăng áp lực tĩnh mạch cửa có ý nghĩa lâm sàng, carvedilol,
một thuốc chẹn thụ thể beta không chọn lọc có hoạt tính chẹn alpha-1, dường như
làm giảm tần suất các biến cố mất bù, mặc dù nó có thể gây hạ huyết áp, đặc
biệt ở bệnh nhân xơ gan mất bù. Bệnh nhân xơ gan nên được tiêm vắc-xin HAV,
HBV, phế cầu và COVID-19 và vắc-xin cúm hàng năm. Ghép gan ở các ứng viên thích
hợp có tính chất chữa bệnh. Phối hợp chăm sóc và chăm sóc giảm nhẹ, khi thích
hợp, đã được chứng minh là cải thiện kết quả và giảm tỷ lệ tái nhập viện.
B. Điều trị các biến
chứng
1. Cổ trướng và phù nề
Chọc dò chẩn đoán được
chỉ định cho bệnh nhân bị cổ trướng mới hoặc đã nhập viện vì biến chứng của xơ
gan; nó làm giảm tỷ lệ tử vong, đặc biệt nếu được thực hiện trong vòng 12 giờ
kể từ khi nhập viện. Các biến chứng nghiêm trọng của chọc dò, bao gồm chảy máu,
nhiễm trùng hoặc thủng ruột, xảy ra trong 1,6% thủ thuật và có liên quan đến
chọc dò điều trị (so với chẩn đoán) và có thể với Child-Pugh loại C, số lượng
tiểu cầu dưới 50.000/mL (50 × 10⁹/L) và xơ gan do rượu. Tuy nhiên, ở bệnh nhân
có rối loạn đông máu, không cần truyền máu dự phòng trước chọc dò. Ngoài số
lượng tế bào và cấy, nồng độ albumin dịch cổ trướng nên được xác định: gradient
albumin huyết thanh-dịch cổ trướng (albumin huyết thanh trừ albumin dịch cổ
trướng) ≥ 1,1 gợi ý tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Nồng độ adenosine deaminase dịch
cổ trướng tăng gợi ý viêm phúc mạc do lao, nhưng độ nhạy của xét nghiệm giảm ở
bệnh nhân tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Đôi khi, cổ trướng do xơ gan là dạng dưỡng
chấp (giàu triglycerid); các nguyên nhân khác của cổ trướng dưỡng chấp là ung
thư, lao và phẫu thuật bụng gần đây hoặc chấn thương.
Ở những người bị cổ
trướng, nồng độ natri trong nước tiểu thường dưới 10 mEq/L (10 mmol/L). Bài
tiết nước tự do cũng bị suy giảm trong xơ gan và hạ natri máu có thể phát
triển.
Ở tất cả bệnh nhân bị cổ
trướng do xơ gan, lượng natri trong chế độ ăn ban đầu có thể bị hạn chế xuống
2000 mg/ngày; lượng natri có thể được nới lỏng một chút sau khi lợi tiểu. NSAID
chống chỉ định và nên tránh aminoglycoside, thuốc ức chế ACE và thuốc đối kháng
angiotensin II. Ở một số bệnh nhân, cổ trướng giảm nhanh chóng chỉ với nghỉ
ngơi tại giường và hạn chế natri trong chế độ ăn. Lượng dịch thường bị hạn chế
(xuống 800 - 1000 mL/ngày) ở bệnh nhân hạ natri máu. Điều trị hạ natri máu nặng
(natri huyết thanh dưới 120 mEq/L [120 mmol/L]) bằng thuốc đối kháng thụ thể
vasopressin (ví dụ, conivaptan đường tĩnh mạch 20 mg hàng ngày) có thể được xem
xét, nhưng điều trị như vậy đắt tiền, gây khát và không cải thiện sống sót;
tolvaptan đường uống chống chỉ định ở bệnh nhân bệnh gan do khả năng gây độc
gan. Truyền albumin đường tĩnh mạch dài hạn đã được báo cáo là cải thiện tỷ lệ
sống sót sau 18 tháng ở bệnh nhân cổ trướng do xơ gan.
A. THUỐC LỢI TIỂU - Spironolactone,
thường kết hợp với furosemide, nên được sử dụng ở bệnh nhân không đáp ứng với
hạn chế muối đơn thuần. Liều spironolactone ban đầu là 100 mg uống hàng ngày và
có thể tăng thêm 100 mg mỗi 3-5 ngày (lên đến liều tối đa thông thường hàng ngày
là 400 mg/ngày, mặc dù liều cao hơn đã được sử dụng) cho đến khi đạt được lợi
tiểu, thường được báo trước bởi sự gia tăng nồng độ natri trong nước tiểu. Nồng
độ natri trong nước tiểu "tại chỗ" vượt quá nồng độ kali tương quan
với bài tiết natri 24 giờ lớn hơn 78 mmol/ngày, dự đoán lợi tiểu ở bệnh nhân
tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối. Theo dõi tăng kali máu là rất quan trọng. Ở
bệnh nhân không dung nạp spironolactone do tác dụng phụ, chẳng hạn như nữ hóa
tuyến vú đau, amiloride (một thuốc lợi tiểu giữ kali khác) có thể được sử dụng
với liều khởi đầu 5-10 mg uống hàng ngày. Lợi tiểu được tăng cường bằng cách
thêm một thuốc lợi tiểu quai như furosemide với liều ban đầu 40 mg hàng ngày.
Tuy nhiên, thuốc lợi tiểu mạnh này sẽ duy trì tác dụng ngay cả khi GFR giảm,
dẫn đến tăng ure huyết trước thận. Liều furosemide đường uống được tăng cùng
với spironolactone và dao động từ 40 mg/ngày đến 160 mg/ngày. Huyết áp, lượng
nước tiểu, tình trạng tâm thần và chất điện giải huyết thanh (đặc biệt là kali)
nên được theo dõi ở bệnh nhân dùng thuốc. Mục tiêu giảm cân ở bệnh nhân cổ
trướng không kèm phù ngoại vi không được quá 1 - 1,5 lb/ngày (0,5 - 0,7
kg/ngày).
B. CHỌC DÒ LƯỢNG LỚN - Ở bệnh nhân cổ
trướng lớn và suy hô hấp hoặc cổ trướng kháng thuốc lợi tiểu ("kháng thuốc
lợi tiểu") hoặc gây ra tác dụng phụ không dung nạp được của thuốc lợi tiểu
("không kiểm soát được bằng thuốc lợi tiểu") (ảnh hưởng đến 5-10%
bệnh nhân xơ gan và cổ trướng), chọc dò lượng lớn (hơn 5 L) có hiệu quả.
Albumin đường tĩnh mạch đồng thời với liều 6-8 g/L dịch cổ trướng được lấy ra
giúp bảo vệ thể tích nội mạch và có thể ngăn ngừa rối loạn chức năng tuần hoàn
sau chọc dò, mặc dù tính hữu ích của phương pháp này đang được tranh luận và
albumin đắt tiền. Chọc dò lượng lớn có thể được lặp lại hàng ngày cho đến khi
cổ trướng được giải quyết phần lớn và có thể làm giảm nhu cầu nhập viện. Nếu có
thể, nên tiếp tục dùng thuốc lợi tiểu với hy vọng ngăn ngừa cổ trướng tái phát.
C. SHUNT CỬA CHỦ TRONG
GAN QUA TĨNH MẠCH CẢNH (TIPS) - TIPS là một phương pháp điều trị hiệu quả cho chảy
máu giãn tĩnh mạch kháng với liệu pháp tiêu chuẩn (ví dụ, thắt vòng qua nội
soi) và đã cho thấy lợi ích trong điều trị cổ trướng kháng trị nặng, đặc biệt ở
bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu tối đa cần ít nhất ba lần chọc dò lượng lớn
mỗi năm. Kỹ thuật này bao gồm việc đặt một giá đỡ kim loại có thể mở rộng giữa
một nhánh của tĩnh mạch gan và tĩnh mạch cửa qua một ống thông được đưa vào qua
tĩnh mạch cảnh trong. Tăng bài tiết natri qua thận và kiểm soát cổ trướng kháng
thuốc lợi tiểu có thể đạt được trong khoảng 75% các trường hợp được chọn. Tỷ lệ
thành công thấp hơn ở bệnh nhân có CKD tiềm ẩn. TIPS có thể được xem xét cho
tràn dịch màng phổi gan kháng trị (dịch cổ trướng di chuyển qua cơ hoành vào
khoang màng phổi); nội soi lồng ngực có hỗ trợ video với làm dính màng phổi
bằng talc có thể có hiệu quả khi TIPS chống chỉ định. Các biến chứng của TIPS
bao gồm bệnh não gan trong 20-30% trường hợp, nhiễm trùng, hẹp shunt ở tới 60%
trường hợp và tắc shunt ở tới 30% trường hợp khi sử dụng giá đỡ trần; giá đỡ
bọc polytetrafluoroethylene có tỷ lệ thông suốt lâu dài 80-90%. Thông suốt lâu
dài thường đòi hỏi phải sửa chữa shunt định kỳ. Trong hầu hết các trường hợp,
có thể duy trì thông suốt bằng nong bóng, tiêu sợi huyết tại chỗ hoặc đặt thêm
giá đỡ. TIPS đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân cần kiểm soát chảy máu giãn
tĩnh mạch hoặc cổ trướng trong thời gian ngắn cho đến khi có thể thực hiện ghép
gan. Ở bệnh nhân cổ trướng kháng trị, TIPS giúp giảm tỷ lệ tái phát cổ trướng
và hội chứng gan thận nhưng tỷ lệ bệnh não gan cao hơn (tần suất giảm với
rifaximin dự phòng) so với chọc dò lượng lớn lặp lại; lợi ích đối với thiểu cơ
và sống sót đã được chứng minh. CKD, rối loạn chức năng tâm trương thất, bệnh
não kháng trị và tăng bilirubin máu (lớn hơn 5 mg/dL [85,5 mcmol/L]) có liên
quan đến tử vong sau TIPS, và bệnh nhân có bilirubin huyết thanh > 3 mg/dL
(50 mcmol/L), tiểu cầu < 75.000/mL (75 × 10⁹/L), bệnh não từ trước, nhiễm
trùng hoạt động, suy tim nặng hoặc tăng áp động mạch phổi nặng có thể không
được hưởng lợi từ TIPS.
2. Viêm phúc mạc do vi
khuẩn tự phát - Chủ đề này được đề cập trong Chương 17.
3. Hội chứng gan thận - Hội chứng gan
thận xảy ra ở tới 10% bệnh nhân xơ gan tiến triển và cổ trướng. Nó được đặc
trưng bởi tăng ure huyết (tăng nồng độ creatinine huyết thanh > 0,3 mg/dL
[26,5 mcmol/L]) trong vòng 48 giờ hoặc tăng 50% hoặc hơn so với giá trị ban đầu
trong vòng 7 ngày trước đó hoặc lượng nước tiểu dưới 0,5 mL/kg/giờ trong 6 giờ
hoặc lâu hơn trong trường hợp không có (1) sử dụng thuốc độc thận hiện tại hoặc
gần đây, (2) dấu hiệu tổn thương thận cấu trúc đại thể, hoặc (3) sốc và chức
năng thận không cải thiện sau 2 ngày ngừng thuốc lợi tiểu và bù dịch bằng
albumin 1 g/kg tối đa 100 g/ngày. Thiểu niệu, hạ natri máu và nồng độ natri
nước tiểu thấp là các đặc điểm điển hình. Hội chứng gan thận chỉ được chẩn đoán
khi các nguyên nhân khác của AKI (bao gồm tăng ure huyết trước thận và ATN) đã
được loại trừ. AKI - hội chứng gan thận (trước đây là hội chứng gan thận loại
1) thường liên quan đến ít nhất nhân đôi creatinine huyết thanh lên mức >
2,5 mg/dL (208,25 mcmol/L) hoặc giảm một nửa độ thanh thải creatinine xuống
dưới 20 mL/phút (0,34 mL/giây/1,73 m² BSA) trong vòng chưa đầy 2 tuần. CKD
(hoặc không phải AKI) - hội chứng gan thận (trước đây là hội chứng gan thận
loại 2) tiến triển chậm hơn và mạn tính. Giảm cung lượng tim cấp tính thường là
yếu tố thúc đẩy.
Đối với điều trị ban đầu
của hội chứng gan thận, nên ngừng thuốc lợi tiểu và cung cấp albumin đường tĩnh
mạch (1 g/kg vào ngày 1 tiếp theo là 20-40 g/ngày trong suốt thời gian điều
trị). Bất kỳ một trong ba phác đồ y tế sau đây cũng có thể dẫn đến cải thiện
lâm sàng và tăng sống sót ngắn hạn: (1) terlipressin đường tĩnh mạch (được FDA
phê duyệt năm 2022); (2) norepinephrine đường tĩnh mạch; hoặc (3) midodrine
đường uống cộng với octreotide, tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch. Các phác đồ này
được dùng trong 7-14 ngày cho đến 24 giờ sau khi creatinine huyết thanh trở lại
trong khoảng 0,3 mg/dL so với giá trị ban đầu trong 2 ngày liên tiếp. Liệu pháp
terlipressin được ưu tiên và hiệu quả hơn midodrine. Các biến chứng bao gồm đau
bụng, buồn nôn, tiêu chảy, khó thở và suy hô hấp. Midodrine đường uống 7,5 mg
ba lần mỗi ngày, thêm vào thuốc lợi tiểu, làm tăng huyết áp và đã được báo cáo
là chuyển đổi cổ trướng kháng thuốc lợi tiểu thành cổ trướng nhạy cảm với thuốc
lợi tiểu. Kéo dài sống sót có liên quan đến việc sử dụng MARS (Hệ thống Tuần
hoàn Hấp phụ Phân tử), một phương pháp lọc máu đã được sửa đổi giúp loại bỏ có
chọn lọc các chất liên kết với albumin. Cải thiện chức năng thận có thể xảy ra
sau khi đặt TIPS, mặc dù dữ liệu còn hạn chế; sống sót sau 1 năm được báo cáo
là dự đoán bởi sự kết hợp của nồng độ bilirubin huyết thanh dưới 3 mg/dL (50
mcmol/L) và số lượng tiểu cầu lớn hơn 75.000/mL (75 × 10⁹/L).
Lọc máu tĩnh mạch liên
tục và chạy thận nhân tạo có giá trị không chắc chắn trong hội chứng gan thận.
Ghép gan là phương pháp điều trị được lựa chọn cuối cùng, nhưng nhiều bệnh nhân
tử vong trước khi có được gan hiến tặng. Tỷ lệ tử vong tương quan với điểm MELD
và sự hiện diện của đáp ứng viêm toàn thân. AKI - hội chứng gan thận thường
không hồi phục ở bệnh nhân bị nhiễm trùng toàn thân. Xác suất sống sót sau 3
tháng ở bệnh nhân xơ gan bị hội chứng gan thận (15%) thấp hơn so với suy thận
liên quan đến nhiễm trùng (31%), giảm thể tích máu (46%) và bệnh thận nhu mô
(73%).
4. Bệnh não gan - Bệnh não gan là
tình trạng rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương do gan không thể giải độc
các chất độc hại có nguồn gốc từ ruột vì rối loạn chức năng tế bào gan và shunt
cửa-chủ. Phổ lâm sàng từ đảo ngược ngày-đêm và suy giảm trí tuệ nhẹ đến hôn mê.
Bệnh nhân bị bệnh não gan tiềm ẩn (trước đây là tối thiểu) không có triệu chứng
lâm sàng có thể nhận biết nhưng biểu hiện thiếu hụt nhẹ về nhận thức, tâm lý
vận động và sự chú ý trong các bài kiểm tra tâm lý tiêu chuẩn hóa và tăng tỷ lệ
tai nạn giao thông. Các giai đoạn của bệnh não rõ bao gồm (1) lú lẫn nhẹ, (2)
buồn ngủ, (3) sững sờ và (4) hôn mê. Một hệ thống phân giai đoạn sửa đổi được
gọi là SONIC (Phổ Suy giảm Nhận thức Thần kinh trong Xơ gan) bao gồm không có,
tiềm ẩn và bệnh não giai đoạn 2 đến 4. Amoniac là chất độc dễ xác định và đo
lường nhất nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra rối loạn trạng thái
tâm thần. Chảy máu vào đường tiêu hóa có thể làm tăng đáng kể lượng protein
trong ruột và thúc đẩy bệnh não. Các yếu tố thúc đẩy khác bao gồm táo bón,
nhiễm kiềm và thiếu kali do thuốc lợi tiểu, opioid, thuốc an thần và thuốc ngủ;
thuốc có chứa amoniac hoặc hợp chất amin; chọc dò dẫn đến giảm thể tích máu;
nhiễm trùng gan hoặc toàn thân; và shunt cửa-chủ (bao gồm TIPS). Trong một
nghiên cứu, các yếu tố nguy cơ gây bệnh não gan ở bệnh nhân xơ gan bao gồm nồng
độ bilirubin huyết thanh cao hơn và sử dụng thuốc chẹn beta không chọn lọc,
trong khi nồng độ albumin huyết thanh cao hơn và sử dụng statin có tác dụng bảo
vệ. Chẩn đoán chủ yếu dựa trên phát hiện các triệu chứng và dấu hiệu đặc trưng,
bao gồm dấu hiệu vỗ cánh (asterixis). Một ứng dụng điện thoại thông minh có tên
EncephalApp sử dụng "Bài kiểm tra Stroop" (yêu cầu bệnh nhân nêu tên
màu của một từ được viết thay vì chính từ đó, ngay cả khi từ đó là tên của một
màu khác) đã được chứng minh là hữu ích để phát hiện bệnh não gan tiềm ẩn.
Lượng protein đường uống
bị ngừng trong các đợt cấp tính. Khi bệnh nhân bắt đầu ăn uống trở lại, lượng
protein nên là 60-80 g/ngày nếu dung nạp được; protein thực vật được dung nạp
tốt hơn protein thịt. Cần kiểm soát chảy máu tiêu hóa và làm sạch máu khỏi
đường tiêu hóa. Điều này có thể được thực hiện bằng 120 mL magnesi citrat uống
hoặc qua ống thông mũi-dạ dày mỗi 3-4 giờ cho đến khi phân sạch máu hoặc bằng
cách dùng lactulose. Giá trị của việc điều trị bệnh nhân bị bệnh não gan tiềm
ẩn vẫn chưa chắc chắn; các tác nhân probiotic có thể có một số lợi ích.
Lactulose, một loại
xi-rô disaccharide tổng hợp không hấp thu, được vi khuẩn trong đại tràng tiêu
hóa thành các axit béo chuỗi ngắn, dẫn đến axit hóa các chất trong đại tràng.
Sự axit hóa này tạo điều kiện cho sự hình thành ion amoni trong phương trình NH₄⁺
↔ NH₃ + H⁺; NH₄⁺ không hấp thu được, trong khi NH₃ có thể hấp thu và được cho
là độc thần kinh. Lactulose cũng dẫn đến sự thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột sao
cho có ít vi khuẩn tạo amoniac hơn. Khi dùng đường uống, liều lactulose ban đầu
cho bệnh não gan cấp tính là 30 mL ba hoặc bốn lần mỗi ngày. Liều sau đó nên
được điều chỉnh sao cho bệnh nhân đi tiêu 2-3 lần phân mềm mỗi ngày. Khi dùng
qua đường trực tràng vì bệnh nhân không thể uống thuốc, liều là 200 g / 300 mL
dưới dạng dung dịch lactulose trong nước muối hoặc sorbitol trong thụt lưu
trong 30-60 phút; có thể lặp lại mỗi 4-6 giờ. Làm sạch ruột bằng dung dịch
chuẩn bị nội soi polyethylen glycol cũng có hiệu quả ở bệnh nhân bị bệnh não
gan rõ cấp tính và có thể được ưa thích hơn. Tiếp tục sử dụng lactulose sau một
đợt bệnh não cấp tính làm giảm tần suất tái phát.
Hệ vi khuẩn đường ruột
tạo amoniac cũng có thể được kiểm soát bằng kháng sinh đường uống. Thuốc không
hấp thu rifaximin, 550 mg uống hai lần mỗi ngày, được ưu tiên và đã được chứng
minh là duy trì lui bệnh và giảm nguy cơ tái nhập viện vì bệnh não gan trong
khoảng thời gian 24 tháng, có hoặc không sử dụng đồng thời lactulose.
Metronidazole, 250 mg uống ba lần mỗi ngày, cũng đã được chứng minh là có lợi.
Những bệnh nhân không đáp ứng với lactulose đơn thuần có thể cải thiện khi thêm
kháng sinh vào điều trị với lactulose.
Sử dụng thực phẩm chức
năng đặc biệt giàu axit amin chuỗi nhánh thường không cần thiết ngoại trừ một
số bệnh nhân không dung nạp được các chất bổ sung protein tiêu chuẩn. Nên tránh
opioid và thuốc an thần được chuyển hóa hoặc bài tiết qua gan. Nếu kích động
nghiêm trọng, oxazepam, 10-30 mg, không bị chuyển hóa qua gan, có thể được dùng
thận trọng qua đường uống hoặc qua ống thông mũi-dạ dày. Nếu thiếu kẽm, nên bổ
sung bằng kẽm sulfat đường uống 600 mg/ngày chia làm nhiều lần.
5. Rối loạn đông máu - Tình trạng giảm
prothrombin máu do suy dinh dưỡng và thiếu vitamin K có thể được điều trị bằng
vitamin K (ví dụ, phytonadione 5 mg uống hoặc tiêm tĩnh mạch hàng ngày); tuy
nhiên, điều trị này không hiệu quả khi sự tổng hợp các yếu tố đông máu bị suy
giảm do bệnh gan. Trong những trường hợp như vậy, để điều chỉnh thời gian
prothrombin kéo dài sẽ cần một lượng lớn huyết tương tươi đông lạnh (xem Chương
17). Vì tác dụng là nhất thời, giá trị của truyền huyết tương, ngay cả đối với
chảy máu đang hoạt động hoặc trước một thủ thuật xâm lấn, đã bị đặt câu hỏi do
những thay đổi đồng thời của các yếu tố chống cầm máu và vì nguy cơ chảy máu
không tương quan với INR. Yếu tố VIIa tái tổ hợp hoạt hóa có thể là một lựa
chọn thay thế nhưng đắt tiền và có nguy cơ biến chứng huyết khối 1-2%. Nguy cơ
chảy máu ở bệnh nhân xơ gan nguy kịch đã được chứng minh là tương quan với chảy
máu khi nhập viện, số lượng tiểu cầu dưới 30.000/mL (30 × 10⁹/L), nồng độ
fibrinogen dưới 60 mg/dL (1,764 mcmol/L) và thời gian thromboplastin từng phần
hoạt hóa trên 100 giây. Ở bệnh nhân chảy máu đang hoạt động hoặc đang thực hiện
thủ thuật xâm lấn, các mục tiêu quản lý theo một số hướng dẫn bao gồm giá trị
hematocrit > 25%, số lượng tiểu cầu > 50.000/mL (50 × 10⁹/L) và nồng độ
fibrinogen > 120 mg/dL (3,528 mcmol/L). Một chất tương tự thrombopoietin, ví
dụ avatrombopag hoặc lusutrombopag, làm giảm nhu cầu truyền tiểu cầu ở bệnh
nhân xơ gan có số lượng tiểu cầu dưới 50.000/mL (50 × 10⁹/L) trải qua các thủ
thuật xâm lấn nhưng phải được dùng ít nhất 3-5 ngày để số lượng tiểu cầu bắt
đầu tăng.
6. Chảy máu từ giãn tĩnh
mạch thực quản - Xem Chương 17.
7. Hội chứng gan phổi và
tăng áp động mạch phổi - cửa chủ
Khó thở ở bệnh nhân xơ
gan có thể do hạn chế phổi và xẹp phổi gây ra bởi cổ trướng lớn hoặc tràn dịch
màng phổi gan. Hội chứng gan phổi - bộ ba gồm bệnh gan mạn tính, tăng gradient
phế nang-động mạch khi bệnh nhân thở không khí phòng và giãn mạch trong phổi
hoặc thông nối động-tĩnh mạch dẫn đến shunt trong phổi từ phải sang trái - xảy
ra ở 5-32% bệnh nhân xơ gan. Bệnh nhân thường khó thở hơn (khó thở khi đứng) và
giảm oxy máu động mạch (giảm oxy máu khi đứng) ở tư thế đứng so với tư thế nằm.
Nên nghi ngờ chẩn đoán ở bệnh nhân xơ gan có nồng độ đo oxy xung 96% hoặc thấp
hơn.
Siêu âm tim tăng cường
cản quang là một xét nghiệm sàng lọc nhạy cảm để phát hiện giãn mạch phổi,
trong khi xạ hình phổi với macroaggregated albumin đặc hiệu hơn và có thể được
sử dụng để xác nhận chẩn đoán. HRCT có thể hữu ích để phát hiện các mạch máu phổi
giãn có thể được nút mạch ở bệnh nhân giảm oxy máu nặng (PO₂ dưới 60 mm Hg [7,8
kPa]) đáp ứng kém với oxy bổ sung.
Điều trị nội khoa đã gây
thất vọng. Liệu pháp oxy dài hạn được khuyến nghị cho bệnh nhân giảm oxy máu
nặng. Hội chứng có thể đảo ngược với ghép gan, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
sau phẫu thuật do suy hô hấp giảm oxy máu nặng tăng ở bệnh nhân có PO₂ động
mạch trước phẫu thuật dưới 44 mm Hg (5,9 kPa) hoặc shunt trong phổi đáng kể.
TIPS có thể cung cấp giảm nhẹ cho bệnh nhân hội chứng gan phổi đang chờ ghép.
Tăng áp động mạch phổi -
cửa chủ xảy ra ở 0,7% bệnh nhân xơ gan. Giới tính nữ, viêm gan tự miễn và biến
thể di truyền của aromatase đã được báo cáo là các yếu tố nguy cơ. Shunt
cửa-chủ tự phát lớn hiện diện ở nhiều bệnh nhân mắc và có liên quan đến việc thiếu
đáp ứng với điều trị. Trong các trường hợp được xác nhận bằng thông tim phải,
một số phương pháp điều trị có thể làm giảm tăng áp động mạch phổi và do đó tạo
điều kiện cho ghép gan. Chúng bao gồm các prostaglandin epoprostenol, iloprost
hoặc treprostinil (hai loại sau dễ sử dụng hơn); thuốc đối kháng thụ thể
endothelin ambrisentan và macitentan (bosentan không còn được sử dụng do khả
năng gây độc gan); thuốc ức chế phosphodiesterase-5 sildenafil, tadalafil hoặc
vardenafil; chất chủ vận thụ thể prostacyclin đường uống selexipag; hoặc chất
tương tự cyclic GMP trực tiếp riociguat. Thuốc chẹn beta làm xấu đi khả năng
tập thể dục và chống chỉ định, và thuốc chẹn kênh canxi nên được sử dụng thận
trọng vì chúng có thể làm nặng thêm tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Ghép gan chống
chỉ định ở bệnh nhân tăng áp động mạch phổi từ trung bình đến nặng (áp lực động
mạch phổi trung bình > 35 mm Hg hoặc, nếu sức cản mạch máu phổi thấp, >
45 mm Hg).
C.
Ghép gan
Ghép gan được chỉ định
trong các trường hợp chọn lọc của bệnh gan mạn tính tiến triển không hồi phục,
suy gan cấp trên nền mạn tính, suy gan cấp và một số bệnh chuyển hóa nhất định
mà khiếm khuyết chuyển hóa nằm ở gan. Chống chỉ định tuyệt đối bao gồm ung thư
(ngoại trừ HCC tương đối nhỏ trong gan xơ - xem Chương 41), bệnh tim phổi tiến
triển (ngoại trừ hội chứng gan phổi) và nhiễm trùng huyết. Chống chỉ định tương
đối bao gồm tuổi trên 70, béo phì bệnh lý, huyết khối tĩnh mạch cửa và mạc
treo, lạm dụng rượu hoặc ma túy đang hoạt động, suy dinh dưỡng nặng và thiếu
hiểu biết của bệnh nhân. Với sự xuất hiện của liệu pháp kháng virus hiệu quả
cho bệnh HIV, một nguyên nhân tử vong chính ở những bệnh nhân này đã chuyển
sang bệnh gan do nhiễm HCV và HBV; kinh nghiệm cho đến nay cho thấy kết quả
ghép gan tương đương với người nhận ghép gan không nhiễm HIV. Bệnh nhân nghiện
rượu thường nên cai rượu trong 6 tháng. Nên xem xét ghép gan ở bệnh nhân có
tình trạng chức năng xấu đi, bilirubin tăng, albumin giảm, rối loạn đông máu
nặng hơn, cổ trướng kháng trị, chảy máu giãn tĩnh mạch tái phát hoặc bệnh não
nặng hơn; ưu tiên dựa trên điểm MELD (hoặc MELD-Na). Điều trị nhiễm HCV nên
được hoãn lại cho đến sau ghép ở những bệnh nhân có điểm MELD từ 21 trở lên.
Ghép gan-thận kết hợp được chỉ định ở bệnh nhân suy thận kèm theo được cho là
không hồi phục. Trở ngại chính đối với việc sử dụng rộng rãi hơn ghép gan là
thiếu nội tạng hiến tặng. Ghép gan từ người sống trưởng thành là một lựa chọn
cho một số bệnh nhân và người hiến tạng theo tiêu chí mở rộng được sử dụng. Tỷ
lệ sống sót sau 5 năm trên 80% hiện được báo cáo. HCC, viêm gan B và C, hội
chứng Budd-Chiari và bệnh gan tự miễn có thể tái phát trong gan ghép. Tỷ lệ tái
phát viêm gan B có thể giảm bằng điều trị trước và sau phẫu thuật bằng chất
tương tự nucleoside hoặc nucleotide và dùng HBIG trong chu phẫu, và viêm gan C
có thể được điều trị bằng thuốc kháng virus tác động trực tiếp. Ức chế miễn
dịch đạt được bằng các kết hợp cyclosporine, tacrolimus, sirolimus,
corticosteroid, azathioprine và mycophenolate mofetil và có thể phức tạp bởi
nhiễm trùng, CKD tiến triển, rối loạn thần kinh và độc tính thuốc, cũng như
thải ghép, tắc mạch máu hoặc rò mật. Bệnh nhân dùng các thuốc này có nguy cơ
béo phì, đái tháo đường và tăng lipid máu và có thể phát triển MASLD tái phát
hoặc mới sau ghép.
Tiên
lượng
Nguy cơ tử vong do xơ
gan còn bù cao gấp 4,7 lần nguy cơ trong dân số chung và nguy cơ do xơ gan mất
bù cao hơn 9,7 lần. Sử dụng statin dường như làm giảm nguy cơ mất bù ở bệnh
nhân xơ gan còn bù, ở những người này, nguy cơ mất bù có thể được dự đoán bằng
hệ thống điểm số bao gồm albumin huyết thanh, bilirubin huyết thanh, tuổi, AST
và ALT huyết thanh và số lượng tiểu cầu. Các hệ thống điểm số tiên lượng cho xơ
gan bao gồm điểm Child-Pugh và điểm MELD và MELD-Na (Bảng 18-8). Điểm MELD-Na,
bao gồm bilirubin huyết thanh, creatinine, natri và INR, cũng là một thước đo
nguy cơ tử vong ở bệnh nhân bệnh gan giai đoạn cuối và đặc biệt hữu ích để dự
đoán sống sót ngắn và trung hạn cũng như các biến chứng của xơ gan (ví dụ, viêm
phúc mạc do vi khuẩn) cũng như xác định mức độ ưu tiên phân phối gan hiến tặng.
Điểm bổ sung (ngoại lệ MELD) được dành cho bệnh nhân có các tình trạng như hội
chứng gan phổi và HCC có thể được hưởng lợi từ ghép gan. Điểm MELD từ 17 trở
lên là bắt buộc để đăng ký ghép gan.
Bảng 18-8. Hệ thống điểm
số Child-Pugh và MELD (Mô hình Bệnh gan Giai đoạn Cuối) để phân giai đoạn xơ
gan.
|
Hệ thống điểm số
Child-Pugh |
||||
|
Tham số |
Điểm số 1 |
Điểm số 2 |
Điểm số 3 |
|
|
Cổ trướng |
Không |
Nhẹ |
Trung bình đến
nặng |
|
|
Bệnh não |
Không |
Nhẹ đến trung bình |
Trung bình đến
nặng |
|
|
Bilirubin, mg/dL
(mcmol/L) |
< 2,0 (34,2) |
2–3 (34,2–51,3) |
> 3,0 (51,3) |
|
|
Albumin, g/dL
(g/L) |
> 3,5 (35) |
2,8–3,5 (28–35) |
< 2,8 (28) |
|
|
Thời gian
prothrombin (tăng giây) |
1–3 |
4–6 |
> 6,0 |
|
|
Tổng điểm số và
Phân loại Child-Pugh tương ứng |
||||
|
Điểm số |
Phân loại |
|||
|
5–6 |
A |
|||
|
7–9 |
B |
|||
|
10–15 |
C |
|||
|
Hệ thống điểm số
MELD |
||||
|
Điểm MELD gốc =
11,2 log (INR) + 3,78 log (bilirubin [mg/dL]) + 9,57 log (creatinine [mg/dL])
+ 6,43. (Phạm vi 6–40.) |
||||
|
Điểm MELD-Na =
MELD + (140 – Na) × (1 – 0,025 × MELD). |
||||
Ở bệnh nhân có điểm MELD
tương đối thấp (dưới 21) và ưu tiên ghép gan thấp, gradient áp lực tĩnh mạch
gan tăng, cổ trướng dai dẳng, bệnh não gan, thiểu cơ, suy nhược và chất lượng
cuộc sống liên quan đến sức khỏe thấp là các yếu tố dự đoán tử vong độc lập bổ
sung và các sửa đổi thêm của điểm MELD (bao gồm MELD 3.0 mới được giới thiệu,
bao gồm giới tính và albumin huyết thanh) đang được xem xét. Chỉ 50% bệnh nhân
bị rối loạn chức năng gan nặng (albumin huyết thanh dưới 3 g/dL [30 g/L],
bilirubin > 3 mg/dL [51,3 mcmol/L], cổ trướng, bệnh não, suy kiệt và chảy
máu tiêu hóa trên) sống sót sau 6 tháng nếu không ghép. Nguy cơ tử vong ở phân
nhóm bệnh nhân xơ gan tiến triển này có liên quan đến teo cơ, tuổi 65 trở lên,
áp lực động mạch trung bình ≤ 82 mm Hg, rối loạn chức năng thận nặng, rối loạn
nhận thức, suy hô hấp, thời gian prothrombin ≥ 16 giây, điều trị nhiễm trùng
huyết chậm trễ và không tối ưu và nhiễm trùng thứ phát. Đối với bệnh nhân xơ
gan nhập viện tại đơn vị chăm sóc đặc biệt, điểm Royal Free Hospital, bao gồm
bilirubin huyết thanh, INR, lactate huyết thanh, gradient oxy phế nang-động
mạch và BUN, đã được báo cáo là dự đoán tử vong. Sự kết hợp giữa điểm MELD và
lactate huyết thanh tại thời điểm nhập viện đã được báo cáo là dự đoán tử vong
nội trú tốt hơn so với điểm MELD đơn thuần. Rối loạn chức năng thận nặng làm
tăng tỷ lệ tử vong lên đến bảy lần ở bệnh nhân xơ gan và ít nhất 25% bệnh nhân
sống sót sau một đợt AKI sẽ phát triển CKD. Béo phì và đái tháo đường dường như
là các yếu tố nguy cơ của sự suy giảm lâm sàng và tử vong liên quan đến xơ gan,
cũng như tiếp tục sử dụng rượu ở bệnh nhân xơ gan do rượu. Việc sử dụng thuốc
chẹn beta cho tăng áp lực tĩnh mạch cửa có lợi trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên,
thuốc chẹn beta có thể trở nên không hiệu quả và có thể liên quan đến giảm sống
sót ở bệnh nhân cổ trướng kháng trị, viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát, nhiễm
trùng huyết hoặc viêm gan do rượu nặng vì tác động tiêu cực của chúng lên dự
trữ bù trừ của tim. Nói chung, nên ngừng thuốc chẹn beta khi huyết áp tâm thu
dưới 90 mm Hg, nồng độ natri huyết thanh dưới 130 mEq/L hoặc AKI đã phát triển,
mặc dù kết quả của một số nghiên cứu đã thách thức các hướng dẫn này. Bệnh nhân
xơ gan có nguy cơ phát triển HCC, với tỷ lệ 3-5% mỗi năm đối với xơ gan liên
quan đến rượu và viêm gan virus. Ghép gan đã cải thiện rõ rệt triển vọng cho
bệnh nhân xơ gan là ứng viên và được giới thiệu đánh giá sớm trong diễn biến
bệnh. Bệnh nhân xơ gan còn bù được ưu tiên bổ sung để ghép gan nếu họ được phát
hiện có tổn thương đường kính lớn hơn 2 cm phù hợp với HCC. Tỷ lệ tử vong nội
trú do xơ gan đã giảm từ 9,1% năm 2002 xuống 5,4% năm 2010 và tỷ lệ tử vong do
chảy máu giãn tĩnh mạch ở bệnh nhân xơ gan đã giảm từ hơn 40% năm 1980 xuống
15% năm 2000. Tỷ lệ nhập viện và chi phí đã tăng đáng kể từ năm 2005 đến 2015,
chủ yếu do tỷ lệ xơ gan do MASLD tăng. Bệnh nhân nhập viện vì xơ gan và nhiễm
trùng có nguy cơ cao bị các nhiễm trùng tiếp theo, đặc biệt nếu họ lớn tuổi,
đang dùng PPI hoặc nhận kháng sinh dự phòng cho viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát.
Khi
nào cần giới thiệu
- Để sinh thiết gan.
- Khi điểm MELD từ 14 trở lên.
- Để nội soi thực quản trên sàng
lọc giãn tĩnh mạch dạ dày thực quản.
Khi
nào cần nhập viện
- Chảy máu tiêu hóa.
- Bệnh não gan giai đoạn 3-4.
- Chức năng thận xấu đi.
- Hạ natri máu nặng.
- Nhiễm trùng nghiêm trọng.
- Giảm oxy máu sâu.