I. KHÁNG SINH PENICILLIN
Penicillin -> liên cầu; không diệt được tụ cầu, vì có beta lactamase; liên cầu không có cơ chế tiết ra beta lactamase.
Penicilin thay đổi cấu trúc: gắn 1 gốc amino tạo ra ampicilin; nếu gắn amino và OH thì tạo ra Amoxicillin. Sau gắn thì phổ của chúng mở rộng sang gram dương và kể cả gram âm như E.coli.
Amoxicillin sử dụng điều trị được liên cầu trong viêm họng.
Điểm khác nhau là amoxicillin và ampiccillin là amox có hấp thu qua đường tiêu hóa là tốt hơn.
Tuy nhiên, amoxicilin và ampicicilin chưa diệt được tụ cầu vàng.=> Cách vượt qua beta lactamase?
2 cách: bổ sung thêm chất bổ trợ: acid clavulicnic (amox => augmentin); ampicillin + sulbactam => unasyn; tazobactam + piperacillin;
E coli có thể tiết ra betalactamase do đó augmentin có thể đieèu trị nhiễm trùng dưới cơ hoành.
Cách thứ 2 là thay đổi vòng betalactam của kháng sinh Penicillin => Nhóm kháng sinh penicillin bán tổng hợp: => methicilin (tuy nhiên vì tác dụng phụ vì viêm thận kẽ dị ứng tần suất cao -> bị thu hồi); oxacilin, cloxacilin, dicloxacillin,...(lý giải rằng thực sự phổ kháng sinh này hẹp)
Tuy nhiên tụ cầu vàng có thể có cơ chế đề kháng thứ 2: MRSA. tụ cầu kháng methicillin => cần đến vancomycin, và vancomycin chỉ diệt được vi khuẩn gram dương. Không hấp thu qua đường tiêu hóa. Vì không hấp thu qua đường tiêu hóa nên là lựa chọn tốt điều trị trong lòng đường tiêu hóa nhất là ruột già bằng đường uống. Như viêm ruột giả mạc (clostridium difficile) do sử dụng kháng sinh làm chết hết hệ khuẩn chí đường ruột làm con này nổi lên. Con này là vi khuẩn kỵ khí nên vẫn sử dụng được metronidazol.
Enteroccus (cầu khuẩn gr +) mặc dù thường có ở đường ruột, đường tiết niệu, đường mật, viêm nội tâm mạc, dễ đề kháng kháng sinh, trước đây người ta dùng ampi + gentamycin; hiện nay người ta dùng vancomycin.
Đối với tất cả gram dương (liêu cầu và tụ cầu) không có cơ chế đề kháng thì kháng sinh betalactam là mạnh nhất
Tụ cầu vàng MSSA, hay MRSA:
Nhiễm ở tụ cầu tại cồng đồng nhẹ: MSSA.
Tụ cầu vàng ở BV, bệnh nặng: MRSA.
Bệnh nhân viêm xương tủy xương, viêm nội tâm mạc, viêm khớp nhiễm khuẩn tác nhân hàng đầu là lậu, nếu không do lậu, nhiễm trùng bàn chân nặng (thương tổn ngoài da bong da - nghĩ đến tụ cầu vàng vì có độc tố exsoliatin): vancomycin
VRSA: tụ cầu kháng vancomycin
VRE: enterococcus kháng vancomycin
Vậy có các kháng sinh nào thay thế để vancomycin trong điều trị MRSA: Daptomycin; tygecillin, ceftaroline, linezolid.
Các kháng sinh penicillin có thể diệt được pseudomonas (vi khuẩn nhiễm khuẩn bệnh viện, rất kháng thuốc,..):
Gồm: ticarcillin, carbenicillin, piperacillin.
Và cả ticarcillin, piperacillin thì bao phủ giống phổ của amoxiccillin + diệt được pseudomonas.
II. CEPHALOSPORIN
Kháng sinh có khả năng bền vững tốt trước các beta lactamase.
Phổ rộng hơn penicillin
Được sử dụng phổ biến nhất thế giới
| Thế hệ | Gram dương | Gram âm | Ví dụ |
| Cepha 1 (generic) | +++ | + | • Cefalexin • Cefazoline • Cefadroxil |
| Cepha 2 | ++ | ++ | • Cefuroxime (Zinnat) |
| Cepha 3 | + | +++ | • Cefotaxime • Ceftriaxone (Rocephin) • Ceftazidime (Fortum) • Cefoperazole • Cefixime • Cefpodoxime • Cefdinir |
| Cepha 4 | 3 + 1 (Antipseudomonal cephalosporin: Cephalosporin thế hệ 4 là cephalosporin thế hệ 3 và chứng minh được khả năng diệt vi khuẩn Gram dương) | • Cefepime • Cefpirome | |
| Cepha 5 | 4 + MRSA | • Ceftaroline |
Dấu "+" duy nhất ở cột Gram dương trong bảng tóm tắt thường nhằm ám chỉ sự suy giảm hoạt tính trên Tụ cầu (Staphylococcus), chứ không phản ánh đúng hoàn toàn khả năng diệt Liên cầu (Streptococcus).
Phân hóa hoạt tính Gram dương trong Cepha 3
Không phải tất cả kháng sinh thế hệ 3 đều có phổ như nhau:
Nhóm Ceftriaxone & Cefotaxime (Đường tiêm):
Tác dụng rất mạnh lên Liên cầu: Hoạt tính trên Streptococcus pneumoniae (phế cầu), Streptococcus pyogenes (liên cầu nhóm A) và Streptococcus agalactiae (nhóm B) cực kỳ tốt, tương đương hoặc thậm chí có ái lực gắn PBP mạnh hơn Cepha 1 đối với các chủng phế cầu giảm nhạy penicillin.
Ứng dụng: Là thuốc lựa chọn đầu tay trong viêm màng não do phế cầu hoặc viêm phổi cộng đồng nặng do liên cầu.
Nhóm Ceftazidime (và Cefoperazone):
Rất yếu trên Gram dương: Thuốc này được tối ưu hóa chuyên biệt để diệt trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas), đổi lại hoạt tính trên cả Tụ cầu lẫn Liên cầu đều rất kém.
Nhóm Cepha 3 đường uống (Cefixime, Cefpodoxime, Cefdinir):
Tác dụng trên liên cầu ở mức khá/trung bình (kém hơn dạng tiêm như Ceftriaxone). Riêng Cefixime tác dụng trên S. aureus và phế cầu đề kháng kém hơn nhiều so với Cepha 1.