COPD và Hen trong ICU
“Cơn khó thở do hen đòi hỏi những biện pháp kích thích hệ giao cảm và làm giãn phế quản.”
Lawrason Brown, MD (a)
Việc phải nhập ICU là một dấu hiệu đáng ngại đối với bệnh nhân đợt cấp của hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Ở bệnh nhân COPD, cứ bốn người thì có một người không sống sót qua đợt nằm viện, và 40% số người sống sót sẽ tái nhập viện trong vòng một năm (1).
100 câu hỏi trắc nghiệm Sốc do viêm
Các hội chứng sốc do viêm
“Bản thân viêm không được xem là một bệnh mà là một hoạt động có ích... nhưng khi nó không thể hoàn thành mục đích có ích đó... nó gây tổn hại.”
John Hunter, MD (a)
Câu trích dẫn mở đầu là của một phẫu thuật viên người Anh thế kỷ 18 với trí tò mò không thể thỏa mãn, nổi tiếng với những buổi đào trộm mộ thường xuyên (để lấy vật liệu nghiên cứu), và với một thí nghiệm trên bản thân đầy liều lĩnh: ông tự cấy vào người dịch mủ từ một bệnh nhân mắc bệnh hoa liễu, rồi sau đó mắc cả lậu và giang mai (1). Ở khía cạnh tích cực hơn, John Hunter đã viết công trình chuyên khảo hoàn chỉnh đầu tiên về viêm, trong đó ông nhận thấy viêm có hai “khuôn mặt” đối lập (giống khuôn mặt Janus): bình thường nó thúc đẩy lành tổn thương mô hoặc nhiễm trùng, nhưng nó cũng có thể trở thành nguồn gây tổn thương mô (2). Hơn hai trăm năm sau, mặt phá hủy của viêm đã nổi lên như một yếu tố chính trong vô số bệnh, từ cấp tính (ví dụ hen), mạn tính (ví dụ xơ vữa động mạch) đến các bệnh liên quan tuổi tác (ví dụ Alzheimer).
Chương này mô tả ba tình trạng đe dọa tính mạng trong đó viêm đóng vai trò lớn: sốc nhiễm khuẩn,
100 câu hỏi trắc nghiệm Sốc mất máu
SỐC MẤT MÁU
“Trong các bệnh cấp tính, khi các chi trở nên lạnh thì đó là một dấu hiệu xấu.”
Hippocrates, Cách ngôn, 400 TCN
Chấn thương là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên toàn cầu ở nhóm tuổi 25–49 (1), và nguyên nhân tử vong có khả năng điều trị được nhiều nhất trong những trường hợp này là sốc mất máu. Hồi sức mất máu do chấn thương đặt ra nhiều thách thức (như được mô tả trong chương này), và một trong số đó xuất phát từ thiết kế của hệ tuần hoàn: hệ này hoạt động với một thể tích giới hạn và một bơm tạo thể tích nhát bóp nhạy cảm với thể tích. Đây là một thiết kế tiết kiệm năng lượng, giúp hạn chế gánh nặng cho tim, nhưng lại khiến cơ thể không dung nạp được mất máu; chẳng hạn, trong khi phổi, gan và thận có thể mất tới 75% khối lượng chức năng mà không dẫn đến tử vong,
150 câu hỏi trắc nghiệm Tiếp cận bệnh nhân sốc
TIẾP CẬN BỆNH NHÂN SHOCK
Một trong những đặc điểm dễ nhận ra của tình trạng lâm sàng gọi là “sốc” chính là tên gọi của nó. Tên này không có giá trị khoa học hay bệnh lý học, đồng thời còn được dùng cho những thực thể ngoài lâm sàng rất xa, như các chiến dịch quân sự (“shock and awe”). Việc sử dụng thuật ngữ này trong lâm sàng có thể truy về năm 1731, khi phẫu thuật viên người Pháp Henri LeDran công bố kinh nghiệm về vết thương do súng và dùng từ “chock” để mô tả những tổn thương thường dẫn đến tử vong (1). Trong bản dịch tiếng Anh sau đó, “shock” bị dịch sai thành diễn biến lâm sàng của tổn thương thay vì chính tổn thương. Từ đó, sốc “lâm sàng” trở thành đồng nghĩa với một tình trạng đe dọa tính mạng và xấu đi nhanh chóng. Tuy nhiên, sốc là hậu quả của nhiều thực thể bệnh lý, nên việc tìm ra nền tảng chung có thể khó khăn.
Đây là chương đầu tiên trong loạt chương về sốc lâm sàng, nhằm trình bày một cách nhìn thống nhất về sốc: sốc là gì, được phân loại thế nào, biểu hiện ra sao và được xử trí như thế nào.
200 câu hỏi điều trị dịch trong hồi sức cấp cứu
Điều trị dịch trong hồi sức cấp cứu
“Việc khôi phục sinh lý bình thường và chức năng bình thường của các cơ quan… không bao giờ có thể đạt được bằng cách làm ngập dịch.”
Francis Moore & G. Thomas Shires (a)
Con người có thể sống sót vài tuần mà không có thức ăn, nhưng sẽ tử vong chỉ sau vài ngày nếu không có nước. Nhu cầu về nước này giải thích (theo mục đích luận) vì sao đáp ứng sinh lý đối với stress hoặc tổn thương bao gồm việc thận giữ nước (thông qua tác dụng của hormon chống bài niệu được phóng thích từ thùy sau tuyến yên). Dĩ nhiên, mục tiêu là hỗ trợ cung lượng tim và duy trì tưới máu mô. Điều trị dịch truyền tĩnh mạch cũng có cùng mục đích; tuy nhiên, lượng dịch truyền ở bệnh nhân nguy kịch thường quá mức, đặc biệt ở người bệnh không ổn định huyết động, và tình trạng quá tải dịch do đó đã được ghi nhận rõ là tác động bất lợi lên cả bệnh suất lẫn tử suất (1).