- Thành phần: các mao mạch và các mạch bạch huyết lân cận.
- Thành mao mạch gồm một lớp tế bào nội mô và giữa các tế bào là nước.
- Mức độ co hay giãn mạch của tiểu động mạch ảnh hưởng đến lưu lượng của dòng máu mao mạch.
- Có một dải cơ trơn đi trước mao mạch gọi là cơ thắt tiền mao mạch. Đóng vai trò như một công tắc.
1. Trao đổi chất qua thành mao mạch
- Trao đổi chất tan và khí qua thành động mạch bằng khuếch tán đơn giản. Một vài chất tan có thể khuếch tán xuyên qua các tế bào nội mô, và những chất tan khác phải khuếch tán ở giữa những tế bào.
- The route (con đường) for khuếch tán phụ thuộc vào liệu chất tan hoặc khí có tan trong lipid hay không.
- O2 và CO2 thì tan tốt trong lipid. Nó có thể đi qua thành mao mạch bằng cách đi xuyên qua các tế bào nội mô.
- driven: được thúc đẩy
- Tốc độ khuếch tán phụ thuộc vào 2 yếu tố:
+ áp lực riềng phần của khí đó
+ diện tích bề mặt khuếch tán -> có nhiều mao mạch mở thì diện tích bề mặt khuếch tán càng lớn.
- Các chất có thể tan trong nước: chính nước, ion, glucose, amino acid không tan trong lipid, -> không đi qua được tế bào nội mô -> buộc các chất này phải đi qua khe hở của các tế bào nội mô --> do đó diện tích khuếch tán là ít hơn nhiều so với các khí hòa tan trong lipid.
- Cho đến nay, cơ chế quan trọng nhất để vận chuyển chất lỏng qua thành mao mạch là thẩm thấu, được thúc đẩy bởi áp lực thủy tĩnh và áp lực thẩm thấu. (2 áp lực này còn gọi là Starling pressure)
- Các protein là lớn hơn so với các khoảng kẽ các tế bào nội mô. Ở một vài mô, chẳng hạn như não, các lỗ giữa các tế bào nội mô khá kín, và rất ít protein rời khỏi những mao mạch này.
- Ở thận và ruột, các mao mạch này có những cửa sổ, cho phép có giới hạn protein có thể đi qua. Ở một số mao mạch khác, các protein có thể đi qua nhờ cơ chế túi ẩm bào.
2. Trao đổi dịch qua mao mạch
- Chất lỏng sẽ chảy nhờ vào thẩm thấu qua một màng sinh học (hoặc thành mao mạch) nếu màng có những lỗ nước và nếu có sự chênh lệch áp suất qua màng. Áp suất chênh lệch qua màng có thể được tạo ra bởi: áp suất thủy tĩnh, áp suất thẩm thấu.
- Ở các mao mạch, dịch dịch chuyển được thúc đẩy bởi tổng áp lực thủy tĩnh và áp lực thẩm thấu.
- Các chất tan có hệ số phản chiếu (reflection coefficient) bằng 1.0 sẽ đóng góp nhiều nhất vào áp suất thẩm thấu hiệu dụng.
++ Chú thích: hệ số phản chiếu: có giá trị từ 0->1. Càng về 1 thì chất tan càng khó đi qua màng tế bào. Với hệ số phản chiếu = 1 thì hoàn toàn không có chất tan đi qua màng, còn =0 thì chất tan đi hoàn toàn qua màng.
- Ơ mao mạch, chỉ protein đóng góp áp suất thẩm thấu hiệu dụng bởi vì nó là chất tan duy nhất có hệ số phản chiếu gần bằng 1.
3. Phương trình Starling
Dịch đi qua thành mao mạch được thúc đẩy bởi áp lực starling
- Khi dịch thực chuyển đi lòng mao mạch vào khoang kẽ thì quá trình này được gọi là lọc; khi dịch chuyển từ khoảng kẽ vào mao mạch được gọi là hấp thu.
- Kf hệ số lọc của mao mạch: là tính thấm nược của thành mao mạch.
- Nó khác nhau giữa các mô, nó phụ thuộc vào đặc tính giải phẫu của thành mao mạch (kích thước của kích thước khe hở giữa các tế bào nội mô). Ví dụ hệ số lọc của mao mạch cầu thận là cao), Kf của mao mạch não lại thấp. Kf không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như các thay đổi trong kháng lực động mạch, thiếu oxy, hoặc tích tụ các chất chuyển hóa. Tuy nhiên, Kf tăng trong tổn thương mao mạch (chẳng hạn: độc tố hoặc bỏng). Sự gia tăng như vây sẽ làm tăng tính thấm mao mạch đối với nước và cũng sẽ là kết quả của sự mất protein trong mao mạch.
*Pc: áp lực thủy tĩnh mao mạch: được quyết định bởi áp lực cả động mạch và tĩnh mạch, mặc dù giá trị của Pc lại gần áp lực động mạch hơn tĩnh mạch. Tuy nhiên Pc lại bị thay đổi nhiều hơn bởi áp lực động mạch hơn là áp lực tĩnh mạch. Ngoại trừ trong mao mạch cầu thận, Pc giảm dọc theo chiều dài mao mạch bởi vì quá trình lọc của chất lòng. Vì vậy trong mao mạch cầu thận thì Pc cao nhất ở đầu mao mạch của mao mạch cầu thận và giảm thấp nhất ở đầu cuối gần tĩnh mạch.
*Pi, áp lực thủy tĩnh khoảng kẽ. Bình thường, Pi gần bằng 0 hoặc có thể dương nhẹ.
* πc, áp lực keo, là một lực đối kháng với lực lọc. Sự tăng nồng độ protein trong máu khiến cho áp lực lọc giảm đi và ngược lại.
*πi, áp lực keo của mô kẽ, bình thường bởi vì có một lượng rất ít protein mất từ mao mạch vào mạch máu nên vẫn có một lượng ít protein.
4. Lympho.
- Hệ thống lympho có nhiệm vụ trả lại dịch kẽ và các protein vào khoang mạch máu. Các mao mạch bạch huyết nằm trong mô kẽ gần các mao mạch mạch máu. Chúng có van 1 chiều. Những mao mạch bạch huyết này sẽ hợp nhất thành các mao mạch bạch huyết lớn hơn và cuối cùng vào hệ bạch huyết lớn nhất, là ống ngực --> dẫn vào các tĩnh mạch lớn.
- Các mạch bạch huyết này có cơ trơn, có khả năng tự co bóp. Dòng chảy trong mạch bạch huyết được duy trì bởi sự co bóp của cơ trơn này và bởi nhờ sự vận động của các cơ xương gây nên sự chèn ép tạo nên sự lưu thông này.
- Phù: là sự tăng thể tích dịch trong mô kẽ khi mà cái thể tích dịch kẽ được lọc lớn hơn so với khả năng trả về của dòng bạch huyết đến mạch máu.
+ Có các cơ chế phù: do tăng các thông số trong phương trình starling. Sự cản trở dòng bạch huyết quay trở về tuần hoàn: bị suy yêu trong ung thư do chiếu xạ, nhiễm ký sinh trùng của hạch bạch huyết hoặc khi thiêu hoạt động của cơ bắp (đứng lâu nghiêm).
Các nguyên nhân và ví dụ về dạng phù
Tăng Pc: Giãn động mạch; co tĩnh mạch. tăng áp lực tĩnh mạch; suy tim; dịch ngoại bào gia tăng
Giảm πc: giảm nồng độ protein; suy gan nặng (giảm khả năng tổng hợp protein); suy dinh dưỡng protein; hội chứng thận hư
Tăng Kf: bỏng; nhiễm trùng (giải phóng histamine; cytokine)
Suy mạch bạch huyết: Đứng; bị loại bỏ hạch bạch huyết hoặc xạ trị; nhiễm ký sinh trùng lympho
`