Gồm: vùng dẫn khí và vùng hô hấp
1. Airways:
a. Đường dẫn khí:
- Mũi, mũi họng (nasopharynx), thanh quản (larynx), trachea (khí quản), bronchi (phế quản), bronchioles (tiểu phế quản), terminal bronchioles (tiểu phế quản tận)
- Chức năng: vận chuyển khí, làm ấm, làm ẩm và lọc khí trước khi đi vào vùng trao đổi khí.
- bifurcate (chia đôi), progressive (dần dần)
- Khí quản là thế hệ thứ 0 -> kết thúc ở thế hệ thứ 23.
- Các đường dẫn khí được lót bởi các tế bào tiết nhầy và tế bào lông chuyển, chức năng loại bỏ các hạt hít vào. Mặc dù, các hạt lớn thường được lọc ra ở mũi, các hạt nhỏ đi vào các đường dẫn khí, nơi chúng bị bắt giữ bởi chất nhầy, sau đó sẽ được quét đi lên trên bằng chuyển động nhịp nhàng của lông chuyển.
- Thành của các đường dẫn khí chứa cơ trơn. Cơ trơn này có các sự chi phối phó giao cảm và giao cảm, có tác dụng ngược lại với tác dụng của đường kính đường dẫn khí: (1) Các neuron adrenergic giao cảm hoạt hóa các thụ thể beta2 trên cơ trơn phế quản -> giãn của các đường dẫn khí. Ngoài ra, và quan trọng hơn, các thụ thể beta2 được hoạt hoá bởi epinephrine lưu hành được giải phóng từ tủy thượng thận và bởi các chất chủ vận beta2-adrenergic như isoproterenol (2) các neuron cholinergic của hệ phó giao cảm hoạt hóa các thụ thể muscarinic, dẫn đến co cơ và co hẹp đường dẫn khí.
b. Vùng hô hấp:
Vùng hô hấp bao gồm các cấu trúc được lót bằng các phế nang và do đó tham gia vào quá trình trao đổi khí: các tiểu phế quản hô hấp, các ống phế nang và các túi phế nang. Các tiểu phế quản hô hấp là các cấu trúc chuyển tiếp. Giống các đường dẫn khí, chúng có lông chuyển và cơ trơn nhưng chúng cũng là phần được xem xét của vùng trao đổi khí bởi vì thỉnh thoảng phế nang đâm chồi ra khỏi thành của chúng. Các ống phế nang được lót hoàn toàn bởi phế nang, nhưng chúng không có lông chuyển và có ít cơ trơn. Các ống phế nang kết thúc ở các túi phế nang, vốn cũng được lót bằng các phế nang.
Các phế nang là những chỗ lồi dạng túi của thành tiểu phế quản hô hấp, các ống phế nang và các túi phế nang. Mỗi phổi có tổng xấp xỉ 300 triệu phế nang. Đường kính của mỗi phế nang gần 200 micromete.
Thành phế nang có một mạng lưới sợi đàn hồi và được lót bởi các tế bào biểu mô, gọi là phế bào type 1 và type 2. Phế bào type 2 tổng hợp surfactant phổi (quan trọng trong giảm sức căng bề mặt cả phế nang) và có khả năng tái tạo lại các phế bào loại 1 và loại 2.
Phế nang có chứa các tế bào thực bà, giúp giữ phế nang sạch khỏi bụi và các mảnh vụn vì phế nang không có lông chuyển. Các đại thực bảo sau khi ăn no mảnh vụn sẽ di chuyển đến các tiểu phế quản, nơi có lông chuyển sẽ mang các mảnh vụn lên đường hô hấp trên để tống ra ngoài.
2. Dòng máu phổi
Các động mạch phổi phân nhánh vào các động mạch nhỏ dần hơn và đi cùng với phế quản đến vùng hô hấp. Các động mạch nhở nhất sẽ chia thành các tiểu động mạch và sau đó đi vào mao mạch phổi, hình thành mạng lưới dày đặc xung quanh phế nang.
Do tác dụng của trọng lực (gravitational effects), dòng máu phỏi không được phân bố đều trong các phổi. Khi một người đứng, dòng máu thấp nhất ở đỉnh phổi và nhiều nhất ở đáy. Khi người đó nằm, tác dụng trọng lực không còn nữa. -> sẽ được thảo luận sau.
Khi trong những cơ qua khác, sự điều chỉnh của dòng máu phổi thông qua thay đổi kháng lực của các tiểu động mạch phổi. Những sự that đổi trong kháng lực động mạch được điều khiển bởi các yếu tố tại chỗ chủ yếu là O2.
Tuần hoàn phế quản là máu cung cấp đến các ống dẫn khí (không tham gia trao đổi khí) và là một phần rất nhỏ trong tổng số dòng máu.
Phế nang là các túi khí hình cầu, còn túi phế nang gồm nhiều phế nang hợp lại mở vào cùng một khoang.